Home / Giáo dục / Văn mẫu / Top 7 bài văn mẫu Bài viết số 6 lớp 10 đề 2 Thuyết minh về một tác giả văn học lớp 10 chọn lọc

Top 7 bài văn mẫu Bài viết số 6 lớp 10 đề 2 Thuyết minh về một tác giả văn học lớp 10 chọn lọc

Hướng dẫn làm bài văn mẫu Bài viết số 6 lớp 10 đề 2 Thuyết minh về một tác giả văn học lớp 10 hay nhất. Các em có thể chọn bất cứ tác giả nào mà các em yêu thích.

Văn thuyết minh chắc hẳn không còn xa lạ với các em học sinh lớp 10 nữa. Tuy nhiên, ở năm lớp 10 này các em sẽ làm quen với dạng đề thuyết minh về tác giả, tác phẩm. Với đề văn Thuyết minh về một tác giả văn học lớp 10 trước hết các em cần lựa chọn ra tác giả mà các em sẽ thuyết minh. Khi thuyết minh về tác giả này các em cần nắm được đặc điểm nổi bật của tác giả cũng như các tác phẩm nổi bật của tác giả đó. Để làm bài tốt hơn các em hãy tham khảo bài văn mẫu dưới đây nhé.

Bài viết số 6 lớp 10 đề 2 Thuyết minh về một tác giả văn học lớp 10 – Bài làm 1

Nhắc đến văn học Việt Nam, chúng ta có quyền tự hào bởi có quá nhiều tác phẩm hay đến từ các tác giả nổi tiếng. Trong số những tác giả nổi tiếng ấy ta không thể không nhắc đến Nguyễn Trãi. Ông là một nhà văn chính luận kiệt suất và là một nhà văn hóa vĩ đại.

Tác giả Nguyễn Trãi sinh năm 1380 có quê gốc ở làng Chi Ngại, huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang. Tên hiệu của ông là Ức Trai. Cha của Nguyễn Trãi là Nguyễn Ứng Long vốn là một học trò nghèo, thi đỗ Thái học sinh. Mẹ của Nguyễn Trãi là bà Trần Thị Thái, con quan Tư đồ Trần Nguyên Đán dòng dõi quý tộc.

Vào năm 1400 dưới triều Hồ, Nguyễn Trãi đã đỗ thái học sinh thứ hai khoa Canh Thìn. Năm ấy Nguyễn Trãi 21 tuổi. Từ năm 1401 – 1407 đời Hồ Hán Thương ông làm chức Ngự Sử đài chính chương nhưng không có dấu vết gì in trên sử sách. Những năm tháng làm quan của ông cũng là những năm tháng thời đại có nhiều biến động. Sau khi nhà Trần suy vi, Hồ Quý Ly đã lên thay và lập ra nhà Hồ. Nguyễn Trãi làm quan cho nhà Hồ không được bao lâu thì quân Minh sang cướp nước ta. Cha con Hồ Quý Ly cùng các triều thần bị bắt sang Trung Quốc, trong đó có cả Nguyễn Phi Khanh. Vì muốn giữ tròn đạo hiếu, Nguyễn Trãi đã cùng em trai sang Trung Quốc nhưng bị cha ngăn lại. Nguyễn Trãi bỏ về nước để tìm cách rửa nhục cho đất nước theo lời cha nhưng bị bắt giữ ở Đông Quan. Sau đó, ông bỏ trốn rồi tìm theo Lê Lợi. Ông đã dâng Bình Ngô sách và được Lê Lợi tin dùng rồi trở thành quân sư số 1 của Lê Lợi.

Khi khởi nghĩa Lam Sơn nổ ra, Nguyễn Trãi tham gia cùng Lê Lợi bàn mưu tính kế. Ông còn giúp Lê Lợi soạn các bài văn thư, chiếu lệnh và góp công lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nguyễn Trãi có nhiều mong ước, hoài bão nhưng sau khi đuổi xong giặc Minh, ông lại bước vào giai đoạn khó khăn và bi thảm. Năm 1429 vì nghi ngờ Trần Nguyễn Hãn mưu phản, Lê Lợi đã sai quân bắt tội khiến vị danh tướng này phải nhảy sông tự vẫn. Nguyễn Trãi sau đó cũng bị bắt, dù được tha nhưng ông không còn được vua tin dùng nữa. Ông được giao chức “nhàn quan” làm trong suốt 10 năm nhưng không có quyền lực. Trước tình cảnh ấy, ông xin từ quan về ở ẩn tại Côn Sơn. Vài tháng sau vua Lê Thái Tông mời ông ra làm việc nước. Với mong ước và hoài bão được phục sự cho đất nước, Nguyễn Trãi lại ra làm quan nhưng sau đó 3 năm vụ án Lệ Chi Viên đã khiến ông mãi mãi ra đi.

Trước khi mất, Truyễn Trãi đã để lại cho đời một tài sản văn chương đồ sộ. Thật tiếc vì sau vụ án Lệ Chi Viên các tác phẩm của ông đã bị bè lũ quân thần đem đi tiêu hủy khá nhiều. Các tác phẩm chúng ta biết đến ngày nay là do người thời ấy ghi chép lại. Nguyễn Trãi viết bằng cả chữ Hán và chữ Nôm nhưng phần nhiều vẫn là chữ Nôm. Tác phẩm tiêu biểu của ông trong dòng văn chính luận là Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo, một số bài chiếu. Các tác phẩm lịch sử gồm có Vĩnh Lăng thần đạo bi, Lam Sơn thực lục. Các tác phẩm thơ có Quốc âm thi tập, Ức Trai thi tập. Các tập thơ này được đánh giá là xưa nhất ở Việt Nam. Có thể nói, Nguyễn Trãi là người đặt nền móng cho văn học chữ Nôm Việt Nam.

Thơ văn của Nguyễn Trãi có nội dung giàu nhân đạo. Trong các tác phẩm của mình ông thường thể hiện tư tưởng nhân nghĩa, vì dân, thương dân, đối xử khoan dung với kẻ thù. Ông cũng bày tỏ khát vọng về một nền độc lập cho dân tộc, nhân dân được ấm no.

Bên cạnh đó, Nguyễn Trãi cũng bày tỏ tâm nguyện được cống hiến cho đất nước. Ở thời loạn, ông xa rời những bon chen cám dỗ, không màng đến danh lợi.

Thông qua các tác phẩm của Nguyễn Trãi, chúng ta thấy rõ được con người của ông. Ông không chỉ là một tác giả văn học tài ba mà còn là một vị anh hùng kiệt xuất, một con người với nỗi niềm sâu thẳm. Tên tuổi của ông sẽ còn được người đời sau nhắc tới.

bai van so 6 lop 10 de 2 thuyet minh ve mot tac gia van hoc lop 10 2 - Top 7 bài văn mẫu Bài viết số 6 lớp 10 đề 2 Thuyết minh về một tác giả văn học lớp 10 chọn lọc

Bài văn hay Thuyết minh về một tác giả văn học lớp 10

Bài viết số 6 lớp 10 đề 2 Thuyết minh về một tác giả văn học lớp 10 – Bài làm 2

Các tác giả văn học luôn là niềm tự hào của nên văn học Việt Nam bởi đã đem đến cho dân tộc những tác phẩm hay ý nghĩa được coi là kiệt tác của nền văn học. Một trong số đó chúng ta không thể không kể đến Nguyễn Trãi nhà văn hóa vĩ đại, nhà văn chính luận kiệt suất.

Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai sinh năm 1380 quê gốc ở làng Chi Ngại, huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang sau dời làng Ngọc Ổi, trấn Sơn Nam Thượng, huyện Thượng Phúc. Thân phụ là Nguyễn Ứng Long vốn là học trò nghèo, thi đỗ Thái học sinh. Thân mẫu là Trần Thị Thái, con quan Tư đồ Trần Nguyên Đán dòng dõi quý tộc.

Năm 21 tuổi, Nguyễn Trãi đỗ thái học sinh thứ hai khoa Canh Thìn năm 1400 dưới triều Hồ. Tuy làm chức Ngự Sử đài chính chương ở đời Hồ Hán Thương năm 1401- 1407 nhưng mẩu đời chính trị này không được bao lâu, nên không có dấu vết gì in trên sử sách.

Nguyễn Trãi sống dưới thời đại đầy biến động dữ dội. Nhà Trần suy vi, Hồ Quý Li lên thay, lập ra nhà Hồ. Khí thi đỗ thái học sinh cả Nguyễn Trãi và Nguyễn Phi Khanh đều làm quan cho nhà Hồ. Nhưng chẳng bao lâu quân Minh sang cướp nước ta, chúng bắt cha con Hồ Quý Li cùng các triều thần sang Trung Quốc trong đó có Nguyễn Phi Khanh. Tương truyền lúc ấy, Nguyễn Trãi muốn giữ tròn đạo hiếu, đã cùng em trai sang Trung Quốc nhưng bị cha ngăn lại. Cha dặn phải tìm cách rửa nhục cho đất nước, ông đã trở về và bị bắt giữ ở Đông Quan. Nguyễn Trãi bỏ trốn, tìm theo Lê Lợi dâng Bình Ngô sách và được Lê Lợi tin dùng. Từ đó ông trở thành một quân sư số một của Lê Lợi.

Nguyễn Trãi tham gia khởi nghĩa Lam Sơn cùng Lê Lợi bàn mưu tính kế, giúp Lê Lợi soạn các bài văn thư, chiếu lệnh, góp công lớn vào sự nghiệp giải phóng đất nước. Sau khi đuổi xong giặc Minh, Nguyễn Trãi chưa kịp thực hiện hoài bão xây dựng đất nước thái bình, thịnh trị, vua dân hòa mục như ông hằng mong ước, thì cuộc đời chuyển sang giai đoạn khó khăn và bi thảm. Sau thắng lợi một năm, đầu năm 1429 Lê Lợi nghi ngời Trần Nguyên Hãn mưu phản, sai quân bắt tội, khiến vị danh tướng này phải nhảy xuống sông tự vẫn. Sau đó Nguyễn Trãi cũng bị bắt. Sau khi được tha ông không còn được tin dùng nữa. Suốt mười năm chỉ được giao chức “nhàn quan” không có thực quyền. Ông xin về ở ẩn ở Côn Sơn nhưng chỉ mấy tháng sau vua Lê Thái Tông lại vời ông ra làm việc nước. Nguyễn Trãi đang hi vọng một thời cơ mới thì thật không may, chỉ ba năm sau một thảm họa đã giáng xuống. Vụ án Lệ Chi Viên, vụ án quan lớn nhất trong lịch sử Việt Nam đã cướp đi sinh mệnh, khiến ông mãi mãi không còn cơ hội thực hiện hoài bão.

Nguyễn Trãi có sự nghiệp văn chương đồ sộ đa dạng phong phú. Ông viết rất nhiều nhưng sau vụ án Trại Vải nhiều tác phẩm của ông đã bị bè lũ quân thần đem đi tiều hủy. Phần còn lại ngày nay do người hồi ấy ghi chép lại. Đặc biệt một di bản của Ức Trai được đánh giá cao “văn chương đức nghiệp”. Phần lớn văn Nguyễn Trãi viết bằng chữ Nôm. Nhưng sự nghiệp văn chương vẫn còn một phần thơ tiếng việt. Tác phẩm viết bằng chữ Hán gồm văn xuôi và thơ. Về văn chính luận tiêu biểu là Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo và một số bài chiếu. Về lịch sử gồm Lam Sơn thực lục, Vĩnh Lăng thần đạo bi. Về thơ thì gồm Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập. Đây là tập thơ Nôm xưa nhất của Việt Nam. Nguyễn Trãi là người đặt nền móng cho văn học chữ Nôm Việt Nam. Và còn Chí Linh sơn phú và Băng Hồ di sư lục..

Nôi dung trong thơ văn Nguyễn Trãi cũng vô cùng giàu nhân đạo. Ông là một người có tư tưởng lớn. Đó là tư tưởng nhân nghĩa là vì dân, yêu dân, trọng dân và ơn dân. Có lí tưởng đạo đức yêu thương dân phải đối xử khoan dung với kẻ thù. Đó là tư tưởng yêu nước, ý thức về độc lập tự do của dân tộc, cùng khát vọng về đất nước hào bình nhân dân có cuộc sống ấm no.

Thơ ca Nguyễn Trãi còn biểu hiện nhân cách đẹp của một nhà nho chân chính. Với mong muốn tâm nguyện được cống hiến cho đất nước cho nhân dân. Đó là khi thời loạn Nguyễn Trãi xa dời những bon chen cám dỗ. rũ bỏ danh lợi để bảo toàn nhân cách và sự thanh sạch của tâm hồn. Nhân cách của Nguyễn Trãi là nhân cách của bậc thầy quân tử, ở ông có cái kiên trung cứng cỏi của cây tùng, có thiết thanh của cây trúc, tiết sạch của cây mai. Thơ văn ông là tâm hồn, nỗi niềm của chính mình. Tình cảm sâu nặng với quê hương tha thiết với thiên nhiên và với thế sự sâu sắc.

Thơ văn Nguyễn Trãi thể hiện đầy đủ và trọn vẹn phong cách và rõ nét con người Nguyễn Trãi. Đó là một anh hùng kiệt xuất về khí phách hùng tâm tráng trí nhưng đó cũng là con người trần thế với nỗi niềm sâu thẳm, với những rung động tinh tế. Nguyễn Trãi xứng đáng là người chúng ta tôn vinh và ngưỡng mộ

Bài viết số 6 lớp 10 đề 2 Thuyết minh về một tác giả văn học lớp 10 – Bài làm 3

Một trong những nền văn học có ảnh hưởng lớn nhất đến thơ ca Việt Nam thời phong kiến và cả sau này chính là thơ Đường. Đường thi- nơi nảy nở của biết bao bông hoa văn học, nơi tỏa sáng của những tài năng nghệ thuật có một không hai mà những nghệ sĩ đời sau vẫn phải thán phục và học hỏi. Và nhắc đến thơ Đường, một nhà thơ không thể không nhắc đến, đó chính là Thi Thánh Đỗ Phủ.

Đỗ Phủ sinh năm 712, mất năm 770, người tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Ông xuất thân trong một gia đình quý tộc, tự cho là dòng dõi vua Nghiêu đã sa sút. Cha ông tên Đỗ Nhàn, mẹ là Thôi thị xuất thân từ gia tộc danh giá Thanh Hà Thôi thị. Là con trai của một học giả, quan lại bậc thấp, thời trẻ ông được tiếp xúc với nền giáo dục Trung Hoa từ nhỏ.

Trong suốt cuộc đời của mình, tham vọng lớn nhất của Đỗ Phủ là có được một chức quan để giúp dân giúp nước, nhưng ông đã không thể thực hiện được điều này. Những năm từ 730 đến 755, ông đã nhiều lần đi thi nhưng đều bị đánh hỏng hoặc chỉ làm những chức quan nhỏ, không thỏa được chí lớn. Ông đã có 10 năm sống nghèo khổ ở Trường An để hiểu và thấu hết những nỗi thống khổ và cơ cực của những người nhân dân ở lớp dưới. Cuộc đời ông, không thoát khỏi thời mà ông đang sống, bị điêu đứng vì Loạn An Lộc Sơn năm 755, và 15 năm cuối đời ông là khoảng thời gian hầu như không ngừng biến động. Rơi vào cảnh túng quẫn, ông đã phải gửi thư xin sự giúp đỡ của người quen. Bệnh tật và đi lưu lạc tứ phương, cuối cùng thi nhân lại chết trên một con thuyền rách nát.

Xem thêm:  Top 10 những bài văn mẫu Thuyết minh về sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 9 chọn lọc

Thơ của Đỗ Phủ thấm máu và nước mắt của nhân dân thời buổi loạn ly. Nếu trong thơ Lý Bạch có dòng sông hát ca, chim muông ríu rít, vầng trăng duyên dáng thì trong thơ Đỗ Phủ dòng sông nức nở, vầng trăng thổn thức và chim muông, cỏ cây câm lặng, úa vàng. Người đời gọi thơ ông là một tập Thi sử (một bộ sử viết bằng thơ). Đọc những tác phẩm của ông, chúng ta có thể thấy được những nét chính của đời sống chính trị, xã hội đời Đường trước và sau loạn An Sử. Trước loạn An Sử (755 – 763) thực trạng phổ biến là thói ăn chơi xa dọa, dâm đãng của vua quan và chiến tranh bành trướng xâm lược. Nhà thơ lớn của nhân dân đã cùng nhịp thở với trăm họ, đứng ở vị trí của những nạn nhân mà cất lên tiếng kêu không thể kìm nén được. Bài thơ “Lệ nhân hành” của ông đã miêu tả chân thực cảnh yến tiệc linh đình của chị em Dương Quý Phi cùng với các vương tôn công tử bên bờ sông. Ở đó, đũa làm bằng sừng tê ngưu, thức ăn là bướu lạc đà. Kèn sáo vang động cả quỷ thần mà họ không buồn nghe, thức ăn quý do bếp nhà vua dâng họ không buồn gắp. Giọng thơ đều đều như khách quan mà không giấu được uẩn ức. Những câu thơ nổi tiếng của ông trong bài “Tự kinh đô phó Phụng Tiên” (Từ kinh đô về huyện Phụng Tiên) được nhân dân truyền tụng như:

“Chu môn tửu nhục xú

Lộ hữu đống tử cốt

Vinh khô chỉ xích dị

Trù trướng nan tái thuật”

(Cửa son rượu thịt ôi

Ngoài đường đầy xác chết

Sướng khổ cách gang tấc

Quặn lòng không nói được)

Đất nước điêu linh, nhân dân lầm than, nhưng triều đình vẫn liên tục phát động chiến tranh để mở mang bờ cõi. Đỗ Phủ đã đứng về phía những người dân bị bắt phu bắt lính, cất tiếng nói lên án chiến tranh phi nghĩa. Những bài thơ có thể kể đến là “Binh sa hành”, “Tiền xuất tái”, “Hậu xuất tái” để châm biếm bọn tướng tá lấy việc chinh phạt để tiến thân. Thay cho tiếng nói của hàng vạn sinh linh, Đỗ Phủ cất tiếng chất vấn nhà vua:

“Mỗi nước có biên thuỳ

Chỉ cần chặn xâm lược

Tàn sát để làm chi?”

Loạn An Sử nổ ra, triều đình phải mất 8 năm mới dẹp yên được. Nhân dân rơi vào cảnh lầm than, điêu đứng. Hai hiện tượng phổ biến trong những năm tháng loạn ly này là cảnh bắt lính, bắt phu và cảnh chia ly thê thảm. Những tác phẩm tiêu biểu của ông thời kì này có chùm thơ “Tam lại” (viết về cảnh nha lại bắt lính, bắt phu), chùm thơ “Tam biệt” (nói về cảnh ly biệt giữa đôi vợ chồng già giữa đôi vợ chồng trẻ và giữa một người lính già với ngôi nhà bị phá rụi), bài “Nha lại bắt lính ở Thạch Hào” (Thạch Hào lại) vẽ nên một cảnh tượng điển hình: Nha lại chờ lúc mọi người ngủ say để xông vào nhà bắt lính. Nhà thơ tự nén mình trước tiếng khóc uẩn ức của xóm làng, nhân dân trong những ngày “đêm trường dạ tối tăm trời đất”. Bài “Tân hôn biệt” (Cuộc chia ly của đôi vợ chồng trẻ mới cưới) là hình ảnh thê thảm của người vợ trẻ:

“Cưới chiều hôm, vắng sớm mai

Duyên đâu lật đật cho người dở dang.”

Gọi thơ ông là Thi sử bởi vì cái ấn tượng binh đao khói lửa nội chiến mà thơ ông gieo vào lòng người còn sâu sắc gấp trăm lần các bộ sách viết về thời này.

Nhưng Đỗ Phủ không hề “viết sử” một cách khách quan. Ông đã đứng hẳn về phía “dân đen”, coi nỗi đau của họ như nỗi đau của chính mình, ước mong san sẻ gánh năng cơm áo và dằn vặt tâm linh với họ. Tư tưởng nhân đạo của Đỗ Phủ là đỉnh cao của chủ nghĩa nhân đạo dưới thời phong kiến. Bài “Mao ốc vi thu phong sở phá ca” thể hiện rõ nhân cách của ông. Trong cảnh màn trời chiếu đất trên con đường chạy loạn, dựng được túp lều tranh cũng bị gió đánh sập, ông đau đớn cho thân phận mình nhưng cũng không quên nghĩ đến những “hàn sĩ” như mình:

“Ước gì có được ngôi nhà vạn gian

Che cho kẻ sĩ nghèo trong thiên hạ, ai nấy đều hân hoan.”

Trong bài “Hựu trình Ngô lang” (Lại nhắn người họ Ngô), ông thể hiện cái nhìn hiện thực sắc sảo của mình qua chiêm nghiệm: ăn trộm là do nghèo đói, nghèo đói là do thuế khoá, chiến tranh.

Như vậy, có thể thấy, Đỗ Phủ đã cùng nhịp thở với nhân dân của mình trước vận nước và trong cảnh đói nghèo, loạn ly. Ông viết về mọi đề tài. Và mỗi bài thơ ông viết không có bài nào thoát ly khỏi thời cuộc. “Đỗ Phủ là nhà thơ chính trị vĩ đại nhất trong lịch sử văn học Trung Quốc“.

Khác với Lý Bạch – nhà thơ lãng mạn, ngòi bút Đỗ Phủ luôn bám chặt vào cuộc đời. Lương Khả Siêu khẳng định: ông là nhà thơ “tả thực chi tiết”. Ông là người “đã thống nhất trong tác phẩm của mình những nét tiêu biểu mà người trước mới chỉ đề cập riêng lẻ”. Đỗ Phủ còn là người tài nghệ trong mọi phong cách thơ Trung Quốc. Ở bất cứ hình thức nào ông đều mang lại những tiến bộ vượt bậc hay đóng góp những ví dụ mẫu mực. Ông lại đặc biệt chú trọng ngôn từ thơ ca, chủ trương “ngữ bất kinh nhân, tử bất hưu” (lời thơ không làm người ta kinh hoàng thì chết không nhắm mắt). Thơ ông có phạm vi sử dụng từ vựng rộng lớn, từ cách nói trực tiếp và thông tục cho đến cách nói bóng và ngôn ngữ văn chương. Nội dung chính trong thơ đã thay đổi khi ông phát triển phong cách của mình để thích hợp với hoàn cảnh xung quanh.. Do vậy thơ ông gieo vào lòng người đọc ấn tượng sâu sắc về cuộc sống, về nỗi cơ cực của nhân dân, về số phận “gian nan khổ hận” cùng cảnh ngộ với “dân đen” của chính ông.

Ảnh hưởng của Đỗ Phủ đến đời sau rất sâu sắc. Về nhân cách, ông dạy con người luôn luôn đồng cam cộng khổ với nhân dân, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ. Về sáng tác thơ ca: thành công của nhà thơ tùy thuộc vào vốn sống của nhà thơ, vào độ chính trong quá trình chiếm lĩnh hiện thực. Về tài năng thơ ca, một tài năng siêu việt được Nguyễn Du tôn làm bậc thầy của văn chương muôn thuở. Sự nổi tiếng của Đỗ Phủ lớn tới mức có thể đo được, như trường hợp của Shakespeare ở Anh. Mỗi nhà thơ Trung Quốc đều khó có thể không bị ảnh hưởng từ ông: Mối quan tâm của Bạch Cư Dị tới dân nghèo, lòng yêu nước của Lục Du hay các phản ánh cuộc sống hàng ngày của Mai Nghiêu Thần là những dẫn chứng tiêu biểu.

Trước Đỗ Phủ không có “Đỗ Phủ”, sau “Đỗ Phủ” cũng không thể tìm kiếm được một Đỗ Phủ thứ hai. Đó là vị Thi Thánh còn sống mãi trong lịch sử văn học Trung Hoa và thế giới.

Bài viết số 6 lớp 10 đề 2 Thuyết minh về một tác giả văn học lớp 10 – Bài làm 4

Cuộc đời người nghệ sĩ gắn với lúc thăng lúc trầm, lúc được yêu thương, khi lại bị ghét bỏ. Nhưng trên hết, nghệ thuật của họ còn ở lại với đời mãi ngàn năm sau, người ta sẽ vẫn nhắc đến những người nghệ sĩ ấy để ngưỡng mộ, biết ơn. Chúng ta sẽ chẳng thể không nhắc đến Xuân Diệu như một nghệ sĩ lớn của dân tộc, người đã dìu dắt thơ ca qua cả những bước thăng trầm!

Xuân Diệu sinh năm 1916 và mất năm 1985, tên thật là Ngô Xuân Diệu, có khi lấy bút danh là Trảo Nha, chính là tên làng của vùng đất quê ông. Cha ông là người Hà Tĩnh nhưng ông lại lớn lên ở vùng đất Quy Nhơn. Chính vì vậy, mà trong ông có cái cần cù ham học của người dân Hà Tĩnh, cũng lại dạt dào cả nắng và gió của vùng biển Quy Nhơn. Chính quê hương đã trở thành yếu tố quan trọng làm nên hồn thơ Xuân Diệu. Ông là con của một nhà nho, được học tập trong môi trường của văn hóa Pháp. Vì vậy, thơ ông vẫn giữ được những nét cổ điển ngàn đời của Việt Nam, nhưng lại mang đậm làn gió phương Tây mới lạ. Đây chính là bước đệm để Xuân Diệu trở thành ‘nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ Mới’. Chính ông cũng đã phải thừa nhận:

“Tôi nhớ Rimbaud với Verlaine

Hai chàng thi sĩ đắm hơi men”

Xuân Diệu phát triển sự nghiệp rực rỡ nhất trong những 30-45 của thế kỉ XX. Đó là khi thơ ca bước vào công cuộc đổi mới, cái tôi cá nhân được đề cao hơn bao giờ hết. Với hai tập “Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió”, Xuân Diệu trở thành một nhà thơ trữ tình lớn, được Hoài Thanh ưu ái gọi với cái tên “Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ Mới”. Tham gia vào Tự lực văn đoàn, Xuân Diệu như một chủ soái của phong trào thơ Mới. Sự nghiệp của ông còn được đánh dấu bằng truyện ngắn “Phấn thông vàng”, tác phẩm “Trường ca” và một loạt các phê bình lí luận văn học. Để lại cho đời cả một kho tàng văn học đồ sộ, Xuân Diệu đã tự kí thác cuộc đời mình vào sự vĩnh viễn của thời gian. Khi cách mạng nổ ra, Xuân Diệu trở về thực hiện nghĩa vụ của công dân, tích cực tham gia kháng chiến và giữ nhiều chức vụ quan trọng. Thành quả của ông đã được ghi nhận bằng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật, là lời khẳng định cho một tài năng lớn.

Nói về thơ Xuân Diệu, Trần Đăng Khoa dùng ba chữ “tài hoa, tinh tế, sang trọng”. Thơ của ông ảnh hưởng mạnh mẽ từ văn học phương Tây, đặc biệt là Pháp, từ cả nội dung cảm hứng đến hình thức thơ. Chính vì vậy mà Xuân Diệu thường có những phát hiện rất mới trong thơ của mình. Ông thường quan niệm, thời gian tuyến tính, một đi không trở lại. Bởi vậy, ông luôn tiếc nuối thời gian, tuổi trẻ đã qua. Có một thi sĩ đứng giữa mùa xuân mà lòng ngậm ngùi:

Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua

Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già

Không chỉ là thời gian, điều ông tiếc nuối hơn cả chính là tuổi trẻ. Đối với ông, con người trong thì tươi, thì xanh là đẹp đẽ nhất, đáng sống nhất. Tuổi trẻ qua đi nghĩa là đời người cũng chẳng còn nữa:

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại

Quan niệm ấy ảnh hưởng mạnh mẽ từ tư tưởng của phương Tây: “Ôi đau đớn, thời gian ăn cuộc đời”

Khác với các nhà thơ cùng thời trốn tránh thực tại, Xuân Diệu yêu thiết tha mảnh đất trần thế, ông tìm được vẻ đẹp tươi xanh nên trần gian này. Thi sĩ ấy luôn khát khao sống cho cho hưởng thụ được vẻ đẹp của cuộc đời:

Ta ôm bó cánh tay ta làm rắn

Làm dây da quấn quýt cả mình xuân

Không muốn đi, mãi mãi ở vườn trần

Chân hóa rễ để hút mùa dưới đất

Có lẽ chỉ đến với Xuân Diệu, ta mới được hưởng thụ một cặp mắt nhìn đời xanh non biếc rờn như vậy. Không chỉ yêu đời, chàng thi sĩ ấy còn luôn muốn đắm mình vào tình yêu, khát khao yêu được đáp trả lại. Thật không sai khi người ta gọi Xuân Diệu là “ông hoàng của thơ tình”:

Yêu, là chết ở trong lòng một ít

Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu?

Nói về đặc sắc nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu, ta không thể không nhắc đến những sáng tạo về mặt từ ngữ của ông. Ảnh hưởng từ luồng văn hóa phương Tây, ông thường có những từ ngữ mới lạ như “Những luồng run rẩy rung rinh lá”. Thơ của ông thường là sự tương giao mạnh mẽ giữa các giác quan “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”. Thi sĩ Xuân Diệu đã thực sự thổi vào thơ ca Việt Nam một luồng gió mới mát mẻ hơn, tươi sáng hơn.

Ngoài thơ ca, Xuân Diệu cũng đã đến với truyện ngắn và phê bình như một duyên cớ. Truyện ngắn “Phấn thông vàng” của ông đánh dấu cho một tài năng viết truyện ngắn sắc sảo tinh tế. Người ta cũng biết đến Xuân Diệu với “Ba đại thi hào dân tộc”, “Tiếng thơ”, “Dao có mài mới sắc”,… Chính ông đã từng khẳng định: “Nhà văn tồn tại ở tác phẩm. Không có tác phẩm thì nhà văn ấy coi như đã chết.”. Và đúng thật, Xuân Diệu dùng thơ văn của mình vượt cả thời gian và không gian.

Xem thêm:  Top 10 bài văn mẫu Đóng vai Đăm Săn kể lại chiến thắng Mtao Mxây lớp 10 chọn lọc

Thời gian rồi sẽ trôi qua, nhưng vẫn sẽ có một Xuân Diệu ở phía sau tâm hồn mỗi con người. Chàng thi sĩ ấy đã giữ trọn trái tim người đọc một cách đắm say mà ngây ngất như vậy!

bai van so 6 lop 10 de 2 thuyet minh ve mot tac gia van hoc lop 10 1 - Top 7 bài văn mẫu Bài viết số 6 lớp 10 đề 2 Thuyết minh về một tác giả văn học lớp 10 chọn lọc

Bài văn mẫu Thuyết minh về một tác giả văn học lớp 10

Bài viết số 6 lớp 10 đề 2 Thuyết minh về một tác giả văn học lớp 10 – Bài làm 5

“Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”

Đó là nỗi niềm của một con người với trái tim muốn bao dung tất cả khi viết về nàng Tiểu Thanh tài hoa nhưng bạc mệnh. Và hẳn nhiên, trong tâm thức của của con người ấy, cũng có một nỗi lo sợ vô hình, sợ bị lãng quên, sợ bị ruồng rẫy, vì chính ông cũng là người có tài nhưng cuộc sống cũng chênh vênh. Con người tài hoa ấy chính là Nguyễn Du, đại thi hào của nền văn học Việt Nam và thế giới.

Nguyễn Du (1765 – 1820) tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, biệt hiệu là Hồng Sơn lạp hộ hay Nam Hải điếu đồ, quê tại làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, một mảnh đất giàu truyền thống văn hóa, mảnh đất địa linh nhân kiệt, cũng là quê hương của nhiều bậc trí giả của Việt Nam. Ông sinh ra trong một gia đình đại quý tộc và có truyền thống về văn học. Cha ông là Nguyễn Nghiễm đậu nhị giáp tiến sĩ, làm quan đến chức Đại tư đồ tức Tể Tướng. Mẹ ông là bà Trần Thị Tần, con gái một người là chức câu kế, quê ở xứ Kinh Bắc, thuộc tỉnh Bắc Ninh ngày nay. Nguyễn Du bị ảnh hưởng bởi giọng điệu ngọt ngào của những làn quan họ quê mẹ mà sau này ta còn bắt gặp rất nhiều trong những sáng tác của ông. Quê hương và gia đình chính là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn và tạo nên mảnh đất màu mỡ để tài năng của Nguyễn Du phát triển suốt thời kỳ niên thiếu.

Nguyễn Du sinh ra và lớn lên trong thời kỳ đầy biến động khi chế độ phong kiến khủng hoảng trầm trọng đang trên bờ vực của sự suy tàn và sụp đổ. Các tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh – Nguyễn tranh giành quyền binh gây ra các cuộc nội chiến kéo dài. Giai cấp thống trị thối nát, quan tham hoành hành, tàn bạo. Kéo theo đó là cuộc sống khốn cùng của nhân dân khi họ phải oằn mình với những thứ thuế vô lý, những đạo luật hà khắc, những cuộc bắt lính tòng quân làm tan nát biết bao gia đình. Và hệ quả tất yếu của những đè nén, áp bức là bão táp của các cuộc khởi nghĩa nông dân, đặc biệt phải kể đến cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Lam Sơn do người anh hùng áo vải Quang Trung – Nguyễn Huệ chỉ huy. Sự suy đồi về đạo đức, lễ giáo phong kiến sụp đổ, đồng tiền trở thành thứ có thể quy đổi mọi giá trị khiến cho tầng lớp trí thức mất niềm tin hoàn toàn vào chế độ phong kiến. Chính những biến động lịch sử ấy đã tác động mạnh mẽ tới nhận thức và tư tưởng của Nguyễn Du. Ông thương xót cho tất cả kiếp người lầm than, dù họ là ai, xuất thân thế nào. Ông càng thương xót cho kiếp người tài hoa, tài tử mà bạc mệnh – những con người thù địch với chính chế độ mà họ đã từng dốc lòng phò tá. Đấy cũng là điều dễ hiểu, bởi lẽ chế độ phong kiến đã trải qua thời kỳ thịnh vượng, hoàng kim của mình và giờ là lúc nó bộc lộ rõ bản chất thối nát của mình. Sự phát triển của chế độ phong kiến không còn phù hợp với sự phát triển nhận thức của tầng lớp trí thức đương thời nên nó sẽ sụp đổ để rồi được thay thế bằng một chế độ khác, phù hợp hơn.

Bản thân Nguyễn Du là người thông minh, học rộng, biết nhiều. Sinh ra trong một gia đình đại quý tộc, cả cha và anh của ông đều làm quan lớn dưới triều Nguyễn nên đến tận năm 11 tuổi, Nguyễn Du vẫn được sống trong giàu sang, phú quý. Đây là quãng thời gian Nguyễn Du được chứng kiến sự sa đọa của chúa Nguyễn, những cuộc tranh đua, giành giật chốn quan trường nên ông nhận thức rõ ràng về cuộc sống, lễ nghi của tầng lớp quý tộc đương thời. Nhận thức ro ràng bao nhiêu ông lại càng thấy căm ghét nó bấy nhiêu. Thế nhưng sau quãng thời gian đó, cuộc đời Nguyễn Du thăng trầm, lên xuống theo sự biến động của dòng lịch sử. Năm 13 tuổi, Nguyễn Du mồ côi cả cha lẫn mẹ nên ông thấu hiểu nỗi đau đớn, lạc lõng của những đứa trẻ bơ vơ không cha, không mẹ. Đặc biệt quãng thời gian “mười năm gió bụi phong trần” (1776 – 1786) là thời gian Nguyễn Du lưu lạc, ăn nhờ ở đậu nơi quê vợ. Đây cũng là những năm tháng cùng cực, khổ sở, tủi nhục trong suốt cuộc đời của Nguyễn Du, đói không có cơm ăn, rét không có áo mặc. Ông tha hương, bơ vơ giữa cuộc đời đầy biến động. Những dòng tâm sự được ông viết trong thời gian này là sự dằn vặt, trăn trở của một con người nuôi chí lớn, khi nguyện ước chưa thành, khi chưa làm được gì rạng danh mà tóc đã bạc trắng:

“Mười năm trọn quê người nấn ná

Nương quê người tóc đã điểm sương”

Dù vậy, mười năm chìm nổi đất Bắc cũng là quãng thời gian ông đi nhiều, tiếp xúc nhiều với tất cả mọi hạng người. Nguyễn Du được sống gần dân, chứng kiến cuộc sống cơ cực, đau khổ của họ dưới sự đàn áp, bóc lột đến tận xương tủy của tầng lớp thống trị. Ông thấu hiểu và chia sẻ với nỗi đau của tất cả thập loại chúng sinh, từ trí sĩ, người giàu đến những con người lao động nhỏ bé đầy bất hạnh. Đặc biệt là trẻ em và phụ nữ. Dù là ai, khi chết đi họ cũng chỉ là những linh hồn cô đơn, nhỏ bé, tội nghiệp mà thôi. Có lẽ mười năm gió bụi phong trần là khoảng thời gian mang đến cho Nguyễn Du những trải nghiệm hoàn toàn khác với cuộc sống sung túc, giàu sang thuở thiếu thời để rồi ông có một vốn sống phong phú mở lòng để bao dung cho tất cả. Khó khăn cùng thăng trầm trong mười năm ấy chỉ là bước đệm để Nguyễn Du có tầm nhìn vượt thoát khỏi những ganh đua, những rào cản trong  nhận thức bản thể của mình để mang tình thương vượt lên trên những định kiến hẹp hòi của chế độ, tiến đến với trái tim bao la của một vĩ nhân.

Năm 1802, khi Nguyễn Ánh lật đổ Nguyễn Huệ lên ngôi vua, Nguyễn Du được vời ra làm quan. Ông chấp nhận một cách miễn cưỡng bởi ông đã chán ghét chế độ phong kiến và nhìn rõ được bộ mặt của bọn quan lại. Cùng năm đó, ông được cử làm sứ giả sang Trung Quốc. Thời gian ở xứ người, Nguyễn Du suy ngẫm và sáng tác được thơ chữ Hán, ghi lại hành trình của mình. Năm 1820, ông được cử đi lần 2 nhưng chưa kịp đi thì ông bị bệnh và mất tại kinh thành Huế.

Trong suốt sự nghiệp sáng tác của mình, Nguyễn Du đề cao tính nhân đạo, giá trị của con người, đặc biệt là người phụ nữ, người lao động thấp cổ bé họng – tầng lớp bị trị đau khổ. Ông sáng tác cả bằng chữ Hán và chứ Nôm. Với chữ Hán, Nguyễn Du để lại cho hậu thế 3 tập thơ là Thanh Hiên thi tập, Nam Trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục. Thanh Hiên thi tập (Tập thơ của Thanh Hiên) gồm 78 bài, viết chủ yếu trong những năm tháng trước khi làm quan nhà Nguyễn. Nam trung tạp ngâm (Ngâm nga lặt vặt lúc ở miền Nam) gồm 40 bài, viết khi làm quan ở Huế, Quảng Bình và những địa phương ở phía nam Hà Tĩnh. Bắc hành tạp lục (Ghi chép linh tinh trong chuyến đi sang phương Bắc) gồm 131 bài thơ, viết trong chuyến đi sứ sang Trung Quốc.

Với chữ Nôm, Nguyễn Du đã để lại một kiệt tác Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều), bài thơ Đọc Tiểu Thanh ký và vài bài văn tế. Với mỗi tác phẩm, Nguyễn Du lại mang tới cho người đọc những cảm nhận, trăn trở, suy tư về những kiếp người.

Thơ văn Nguyễn Du có giá trị hiện thực sâu sắc, phản ánh chân thực cuộc đời cơ cực của ông nói riêng, và xã hội đen tối, bất công nói chung. Đọc các sáng tác của Nguyễn Du, đặc biệt là truyện Kiều, ta sẽ thấy ông dựng nên bối cảnh của chế độ phong kiến thối nát, mục ruỗng khi cái xấu, cái ác lên ngôi và đồng tiền thì có sức mạnh vô biên. Đó là xã hội của những tên quan tham, làm việc bất chấp công lý, của những tay buôn người ghê tởm với những trò lừa lọc trở thành ngón nghề. Đồng tiền trong xã hội ấy có thể mua được đạo đức, công lý, thậm chí là cả nhân cách của một con người. Hiện thực xã hội hiện lên đen tối bao nhiêu thì tinh thần nhân đạo, tình yêu thương, luôn hướng tới đồng cảm, bênh vực, ngợi ca và đòi quyền sống cho con người, đặc biệt là người phụ nữ tài hoa mà bạc mệnh càng hiện lên chan chưa bấy nhiêu. Nguyễn Du đau với nỗi đau thân phận 15 năm truân chuyên của nàng Kiều, khóc thương cho nỗi tủi hờn bạc mệnh của nàng Tiểu Thanh, mong muốn cứu rỗi linh hồn cho thập loại chúng sinh thoát khỏi bể khổ nơi trần thế…Chịu ảnh hưởng sâu sắc của đạo Phật, trái tim của Nguyễn Du luôn hướng tới con người để tìm thấy những giá trị tốt đẹp ẩn sâu bên trong tạm bị che lấp bởi cuộc sống bon chen, xô bồ.

Nguyễn Du được coi là đại thi hào dân tộc vì những gì ông đã đóng góp cho sự phát triển của nền văn học nước nhà. Về thể loại, Nguyễn Du đã đưa hai thể thơ của truyền thống dân tộc đạt đến trình độ điêu luyện và mẫu mực cổ điển. Nguyễn Du đã tiểu thuyết hóa thể loại truyện Nôm, với điểm nhìn trần thuật từ bên trong nhân vật, và nghệ thuật miêu tả tâm lí tinh tế, sâu sắc. Về ngôn ngữ, Nguyễn Du đã có đóng góp to lớn, làm cho ngôn ngữ Tiếng Việt trở nên trong sáng, tinh tế và giàu có. Với Truyện Kiều, ngôn ngữ tiếng Việt đã đạt tới mức độ biểu đạt đỉnh cao với sự xuất hiện của vô số trường từ vựng với sắc thái biểu đạt tinh tế, đắt giá (trường từ vựng về màu sắc, về tâm trạng con người, về thiên nhiên….)

Nguyễn Du đã có những đóng góp to lớn, thúc đẩy tiến trình phát triển của văn học Việt Nam.

Có thể nói, Nguyễn Du là bậc kỳ tài của văn học Việt Nam nói riêng, thế giới nói chung. Tài năng và tấm lòng của một con người luôn trăn trở về thân phận của người tài hoa nhưng mệnh bạc đã mang đến cho những sáng tác của ông một sức sống kỳ diệu vượt qua lớp bụi phủ thời gian mà vang vọng trong tâm trí của biết bao thế hệ một chân lý từ cổ chí kim ta vẫn thấy nó chẳng sai bao giờ:

“Trăm năm trong cõi người ta

Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau”

Bài viết số 6 lớp 10 đề 2 Thuyết minh về một tác giả văn học lớp 10 – Bài làm 6

Nguyễn Trãi là một nhân vật vĩ đại trong lịch sử Việt Nam. Ông là anh hùng dân tộc, là nhà tư tưởng, nhà thơ, nhà văn hóa lớn có đóng góp vĩ đại vào sự phát triển của văn học và tư tưởng Việt Nam.

Nguyễn Trãi, sinh ở Thăng Long trong gia đình ông ngoại là quan Đại tư đồ Trần Nguyên Đán. Cha ông là Nguyễn ứng Long, hiệu ức Trai (tức là Nguyễn Phi Khanh). Mẹ ông là Trần Thị Thái, con gái Trần Nguyên Đán.

Năm Nguyễn Trãi lên 5 tuổi, mẹ ông mất. Sau đó không lâu, Trần Nguyên Đán cũng mất. Ông về ở với cha tại quê nội ở làng Nhị Khê.

Năm 1400, để cứu vãn chế độ phong kiến đang khủng hoảng trầm trọng, Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần và tiếp tục thi hành các cải cách như chính sách hạn nô, hạn điền, tổ chức lại giáo dục, thi cử và y tế.

Cũng năm 1400, sau khi lên ngôi Vua, Hồ Quý Ly mở khoa thi. Nguyễn Trãi ra thi, ông đỗ Thái học sinh (tiến sĩ) năm ông 20 tuổi. Hồ Quý Ly cử ông giữ chức Ngự sử đài chánh chưởng. Còn cha ông là Nguyễn Phi Khanh đỗ bảng nhãn từ năm 1374, được Hồ Quý Ly cử giữ chức Đại lý tự khanh Thị lang tòa trung thư kiêm Hàn lâm Viện học sĩ tư nghiệp Quốc Tử Giám.

Xem thêm:  Top 10 bài văn mẫu Thuyết minh về ngôi trường của em lớp 9 chọn lọc

Năm 1406, Minh Thành Tổ sai Trương Phụ mang quân sang xâm lược Việt Nam. Nhà Hồ đem quân ra chống cự, nhưng bị đánh bại. Cha con Hồ Quý Ly và một số triều thần trong đó có Nguyễn Phi Khanh bị bắt và bị đưa về Trung Quốc.

Nghe tin cha bị bắt, Nguyễn Trãi cùng em là Nguyễn Phi Hùng khóc theo lên tận cửa Nam Quan với ý định sang bên kia biên giới để hầu hạ cha già trong lúc bị cầm tù.

Nhân lúc vắng vẻ, Nguyễn Phi Khanh bảo Nguyễn Trãi:

– Con là người có học, có tài, nên tìm cách rửa nhục cho nước, trả thù cho cha. Như thế mới là đại hiếu. Lọ là cứ phải đi theo cha, khóc lóc như đàn bà mới là hiếu hay sao?

Nguyễn Trãi nghe lời cha quay trở lại tìm con đường đánh giặc, cứu nước.

Về đến Thăng Long, ông bị quân Minh bắt. Thượng thư nhà Minh là Hoàng Phúc biết Nguyễn Trãi là một nhân vật có tài, tìm cách dụ dỗ, nhưng ông kiên quyết không theo giặc.

Sau một thời gian bị giam lỏng ở Đông Quan (tức Thăng Long), Nguyễn Trãi vượt được vòng vây của giặc vào Thanh Hóa theo Lê Lợi. Ông gặp vị thủ lĩnh nghĩa quân Lam Sơn ở Lỗi Giang. Ông trao cho Lê Lợi bản chiến lược đánh đuổi quân Minh mà sử sách Việt Nam gọi là Bình Ngô sách.

Trong bài tựa ức Trai di tập, Ngô Thế Vinh cho biết: Bình Ngô sách “hiến mưu trước lớn không nói đến việc đánh thành, mà lại khéo nói đến việc đánh vào lòng người”.

Lê Lợi khen chiến lược của Nguyễn Trãi là đúng. Và ông đã vận dụng chiến lược này để đánh quân Minh. Từ đây, ông thường giữ Nguyễn Trãi gần bên mình để cùng bàn mưu tính kế đánh quân Minh.

Cuối năm 1426, Lê Lợi lập bản doanh ở bến Bồ Đề (Gia Lâm). Tại đây, ông cho dựng một cái chòi cao ngang bằng tháp Báo Thiên ở Đông Quan. Lê Lợi ngồi tầng thứ nhất của chòi, Nguyễn Trãi ngồi tầng thứ hai. Hai nhân vật luôn luôn trao đổi ý kiến với nhau.

Trong kháng chiến, Nguyễn Trãi chủ trương phải dựa vào dân thì mới đánh được giặc, cứu được nước. Khi kháng chiến đã thắng lợi, ông cũng thấy rằng phải lo đến dân, thì mới xây dựng được đất nước. Trong tờ biểu tạ ơn được cử giữ chức Gián nghị đại phu tri tam quân sư, ông đã viết: “Chí những muốn, việc cố nhân đã muốn: để tâm dân chúng, mình lo trước điều thiên hạ phải lo”.

Năm 1437, khi vua Lê Thái Tông cử ông định ra lễ nhạc, ông cũng nói cho vua biết những điều mà vua phải làm trước hết là chăn nuôi nhân dân:

– Dám mong Bệ hạ rủ lòng yêu thương và chăn nuôi muôn dân khiến cho trong thôn cùng xóm vắng, không có một tiếng hờn giận oán sầu. Đó tức là giữ được cái gốc của nhạc.

Do luôn luôn “lo trước điều thiên hạ phải lo, vui sau cái vui của thiên hạ”, Nguyễn Trãi lúc nào cũng sống một cuộc đời giản dị, cần kiệm liêm chính. Nhà của ông ở Đông Kinh (Thăng Long) chỉ là một túp nhà tranh (góc thành Nam lều một gian). Khi ông cai quản công việc quân dân ở hải đảo Đông Bắc, nhà của ông ở Côn Sơn “bốn mặt trống trải, xác xơ chỉ có sách là giàu thôi” (thơ Nguyễn Mộng Tuân, bạn Nguyễn Trãi).

Bài Bình Ngô đại cáo của ông là một “thiên cổ hùng văn”. Đó là một thiên anh hùng ca bất hủ của dân tộc.

Quân trung từ mệnh tập của Nguyễn Trãi là những thư từ do ông viết trong việc giao thiệp với quân Minh. Những thư này là những tài liệu cụ thể chứng minh đường lối ngoại giao vào địch vận hết sức khéo léo của Lê Lợi và Nguyễn Trãi làm cho quân Lam Sơn không mất xương máu mà hạ được rất nhiều thành.

Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi là tác phẩm xưa nhất bằng Việt ngữ mà chúng ta còn giữ được. Tác phẩm này rất quan trọng cho công tác nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam và lịch sử ngôn ngữ Việt Nam.

Năm 1442, cả gia đình ông bị hãm hại (tru di tam tộc) khiến cho người đương thời vô cùng thương tiếc.

Năm 1464, vua Lê Thánh Tông hạ chiếu minh oan cho Nguyễn Trãi, truy tặng quan tước và tìm hỏi con cháu còn sót lại.

Nguyễn Trãi là một nhân vật vĩ đại trong lịch sử Việt Nam. ông là anh hùng dân tộc, là nhà tư tưởng, nhà thơ, nhà văn hóa lớn của nước ta. Tâm hồn và sự nghiệp của ông mãi mãi là vì sao sáng như Lê Thánh Tông truy tặng “Ưc Trai tâm thượng quang Khuê Tảo”

bai van so 6 lop 10 de 2 thuyet minh ve mot tac gia van hoc lop 10 - Top 7 bài văn mẫu Bài viết số 6 lớp 10 đề 2 Thuyết minh về một tác giả văn học lớp 10 chọn lọc

Những bài văn mẫu Thuyết minh về một tác giả văn học lớp 10

Bài viết số 6 lớp 10 đề 2 Thuyết minh về một tác giả văn học lớp 10 – Bài làm 7

Nguyễn Du là một đại thi hào dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới, một nhà nhân đạo lỗi lạc có “con mắt nhìn thấu sáu cõi” và “tấm lòng nghĩ suốt ngàn đời” (Mộng Liên Đường chủ nhân).

Nguyễn Du, tên chữ là Tố Như, tên hiệu là Thanh Hiên, quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông sinh năm 1765 (Ất Dậu) trong một gia đình có nhiều đời và nhiều người làm quan to dưới triều Lê, Trịnh. Cha là Nguyễn Nghiễm từng giữ chức Tể tướng 15 năm. Mẹ là Trần Thị Tần, một người phụ nữ Kinh Bắc có tài xướng ca.

Quê hương Nguyễn Du là vùng đất địa linh, nhân kiệt, hiếu học và trọng tài. Gia đình Nguyễn Du có truyền thống học vấn uyên bác, có nhiều tài năng văn học. Gia đình và quê hương chính là “mảnh đất phì nhiêu” nuôi dưỡng thiên tài Nguyễn Du.

Thời thơ ấu, Nguyễn Du sống trong nhung lụa. Lên 10 tuổi lần lượt mồ côi cả cha lẫn mẹ, cuộc đời Nguyễn Du bắt đầu gặp những sóng gió trong cơn quốc biến ba đào: sống nhờ Nguyễn Khản (anh cùng cha khác mẹ làm Thừa tướng phủ chúa Trịnh) thì Nguyễn Khản bị giam, bị Kiêu binh phá nhà phải chạy trốn. Năm 19 tuổi, Nguyễn Du thi đỗ tam trường rồi làm một chức quan ở tận Thái Nguyên. Chẳng bao lâu nhà Lê sụp đổ (1789) Nguyễn Du lánh về quê vợ ở Thái Bình rồi vợ mất, ông lại về quê cha, có lúc lên Bắc Ninh quê mẹ, nhiều nhất là thời gian ông sống không nhà ở kinh thành Thăng Long.

Hơn mười năm chìm nổi long đong ngoài đất Bắc, Nguyễn Du sống gần gũi nhân dân và thấm thìa biết bao nỗi ấm lạnh kiếp người, đặc biệt là người dân lao động, phụ nữ, trẻ em, cầm ca, ăn mày… những con người “dưới đáy” xã hội. Chính nỗi bất hạnh lớn trong cuộc đời đã hun đúc nên thiên tài Nguyễn Du – nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn.

Miễn cưỡng trước lời mời của nhà Nguyễn, Nguyễn Du ra làm quan. Năm 1813 được thăng chức Học sĩ điện cần Chánh và được cử làm Chánh sứ đi Trung Quốc. Năm 1820, ông lại được cử đi lần thứ hai nhưng chưa kịp đi thì mất đột ngột ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn (18-9-1820). Suốt thời gian làm quan cho nhà Nguyễn, Nguyễn Du sống trầm lặng, ít nói, có nhiều tâm sự không biết tỏ cùng ai.

Tư tưởng Nguyễn Du khá phức tạp và có những mâu thuẫn: trung thành với nhà Lê, không hợp tác với nhà Tây Sơn, bất đắc dĩ làm quan cho nhà Nguyễn. Ông là một người có lí tưởng, có hoài bão nhưng trước cuộc đời gió bụi lại buồn chán, Nguyễn Du coi mọi chuyện (tu Phật, tu tiên, đi câu, đi săn, hành lạc…) đều là chuyện hão nhưng lại rơi lệ đoạn trường trước những cuộc bể dâu. Nguyễn Du đã đứng giữa giông tố cuộc đời trong một giai đoạn lịch sử đầy bi kịch. Đó là bi kịch của đời ông nhưng chính điều đó lại khiến tác phẩm của ông chứa đựng chiều sâu chưa từng có trong thơ văn Việt Nam.

Nguyễn Du có ba tập thơ chữ Hán là: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục, tổng cộng 250 bài thơ Nôm, Nguyễn Du có kiệt tác Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều), Văn tế thập loại chúng sinh (Văn chiêu hồn) và một số sáng tác đậm chất dân gian như Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu; vè Thác lèn trai phường nón.

Mở đầu Truyện Kiều, Nguyễn Du tâm sự:

“Trải qua một cuộc bể dâu

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”.

Chính “những điều trông thấy” khiến tác phẩm của Nguyễn Du có khuynh hướng hiện thực sâu sắc. Còn nỗi “đau đớn lòng” đã khiến Nguyễn Du trở thành một nhà thơ nhân đạo lỗi lạc.

Nguyễn Du là nhà thơ “đứng trong lao khổ mà mở hồn ra đón lấy tất cả những vang vọng của cuộc đời” (Nam Cao). Thơ chữ Hán của Nguyễn Du giống những trang nhật kí đời sống, nhật kí tâm hồn vậy. Nào là cảnh sống lay lắt, nào là ốm đau, bệnh tật cho đến cảnh thực tại của lịch sử… đều được Nguyễn Du ghi lại một cách chân thực (Đêm thu: Tình cờ làm thơ; Ngồi dèm…). Nguyễn Du vạch ra sự đối lập giữa giàu – nghèo trong Sở kiến hành hay Thái Bình mại giả ca… Nguyễn Du chống lại việc gọi hồn Khuất Nguyên về nước Sở của Tống Ngọc là bởi nước Sở “cát bụi lấm cả áo người” toàn bọ “vuốt nanh”, “nọc độc”, “xé thịt người nhai ngọt xớt”… Nước Sở của Khuất Nguyên hay nước Việt của Tố Như cũng chỉ là một hiện thực: cái ác hoành hành khắp nơi, người tốt không chốn dung thân. Truyện Kiều mượn bôi cảnh đời Minh (Trung Quốc) nhưng trước hết là bản cáo trạng đanh thép ghi lại “những điều trông thấy” của Nguyễn Du về thời đại nhà thơ đang sống. Phản ánh với thái độ phê phán quyết liệt, đó là khuynh hướng hiện thực sâu sắc trong sáng tác của Nguyễn Du.

Sáng tác của Nguyễn Du bao trùm tư tưởng nhân đạo, trước hết và trên hết là niềm quan tâm sâu sắc tới thân phận con người. Truyện Kiều không chỉ là bản cáo trạng mà còn là khúc ca tình yêu tự do trong sáng, là giấc mơ tự do công lí “tháo cũi sổ lồng”. Nhưng toàn bộ Truyện Kiều chủ yếu là tiếng khóc xé ruột cho thân phận và nhân phẩm con người bị chà đạp, đặc biệt là người phụ nữ.

“Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”.

Không chỉ Truyện Kiều mà hầu hết các sáng tác của Nguyễn Du đều bao trùm cảm hứng xót thương, đau đớn: từ Đọc Tiểu Thanh kí đến Người ca nữ đất Long Thành, từ Sở kiến hành đến Văn tế thập loại chúng sinh… thậm chí Nguyễn Du còn vượt cả cột mốc biên giới, vượt cả ranh giới ta – địch và vượt cả sự cách trở âm dương để xót thương cho những kẻ chết trận, phơi “xương trắng” nơi “quý môn quan”.

Không chỉ xót thương, Nguyễn Du còn trân trọng, ca ngợi vẻ đẹp, cùng những khát vọng sống, khát vọng tình yêu hạnh phúc. Tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Du đã vượt qua một số ràng buộc của ý thức hệ phong kiến và tôn giáo để vươn tới khẳng định giá trị tự thân của con người. Đó là tư tưởng sâu sắc nhất mà ông đem lại cho văn học Việt Nam trong thời đại ông.

Nguyễn Du đã đóng góp lớn về mặt tư tưởng, đồng thời có những đóng góp quan trọng về mặt nghệ thuật.

Thơ chữ Hán của Nguyễn Du giản dị mà tinh luyện, tài hoa. Thơ Nôm Nguyễn Du thực sự là đỉnh cao rực rỡ. Nguyễn Du sử dụng một cách tài tình hai thể thơ dân tộc: lục bát (Truyện Kiều) và song thất lục bát (Văn tế thập loại chúng sinh). Đến Nguyễn Du, thơ lục bát và song thất lục bát đã đạt đến trình độ hoàn hảo, mẫu mực, cổ điển.

Nguyễn Du đóng góp rất lớn, rất quan trọng cho sự phát triển giàu đẹp của ngôn ngữ văn học Tiếng Việt: tỉ lệ từ Hán – Việt giảm hẳn, câu thơ tiếng Việt vừa thông tục, vừa trang nhã, diễm lệ nhờ vần luật chỉnh tề, ngắt nhịp đa dạng, tiểu đối phong phú, biến hóa. Thơ Nguyễn Du xứng đáng là đỉnh cao của tiếng Việt văn học Trung Đại. Đặc biệt Truyện Kiều của Nguyễn Du là “tập đại thành” về ngôn ngữ văn học dân tộc.

Xin được mượn những câu thơ của nhà thơ Tố Hữu tri âm cùng Tố Như để thay cho lời kết:

“Tiếng thơ ai động đất trời

Nghe như non nước vọng lời ngàn thu

Trên đây chúng ta đã cùng nhau tham khảo Bài viết số 6 lớp 10 đề 2 Thuyết minh về một tác giả văn học lớp 10 hay nhất. Chúc các em làm tốt đề văn này.

Thu Thủy

Check Also

bai viet so 4 lop 10 de 3 thuyet minh ve mot kinh nghiem hoc van hoac lam van e1584264850645 310x165 - Top 10 bài văn mẫu Bài viết số 4 lớp 10 đề 3 Thuyết minh về một kinh nghiệm học văn hoặc làm văn lớp 10 chọn lọc

Top 10 bài văn mẫu Bài viết số 4 lớp 10 đề 3 Thuyết minh về một kinh nghiệm học văn hoặc làm văn lớp 10 chọn lọc

Hướng dẫn làm bài văn mẫu Bài viết số 4 lớp 10 đề 3 Thuyết …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *