Hướng dẫn làm bài văn mẫu Phân tích truyện ngắn cố Hương của Lỗ Tấn lớp 9 hay nhất. Đây là một trong số những sáng tác vô cùng đặc sắc của Lỗ Tấn.

Con người ta có ai đi xa mà không muốn trở về quê hương của mình. Nơi ấy ghi dấu biết bao nhiêu ký ức tươi đẹp của tuổi thơ, có gia đình và người thân yêu. Nhưng quê hương không phải lúc nào cũng tươi đẹp như trong tâm tưởng của con người. Có nơi phát triển theo hướng hiện đại hơn nhưng cũng có nơi đã trở nên tiêu điều như quê hương của nhà thơ Lỗ Tấn. Dưới đây, mời các bạn và các em cùng tham khảo bài văn mẫu Phân tích truyện ngắn Cố Hương của Lỗ Tấn lớp 9 hay nhất.

Phân tích truyện ngắn Cố Hương của Lỗ Tấn lớp 9 – Bài làm 1

Trong lòng mỗi con người luôn in dấu hình ảnh của quê hương mình. Nhà văn Lỗ Tấn cũng vậy. Ông là một tác giả nổi tiếng của Trung Quốc, người đã đóng góp cho nền văn học Trung Quốc rất nhiều tác phẩm hấp dẫn như Nhật kí của một người điên, Thuốc, AQ chính truyện. Một trong số những tác phẩm tiêu biểu của Lỗ Tấn không thể không kể đến là Cố hương.

Lỗ Tấn sáng tác truyện ngắn Cố Hương vào năm 1923, sau đó truyện được in trong tập Gào thét. Cố hương có nghĩa là quê cũ, là nơi mà con người được sinh ra và lớn lên nhưng hiện tại thì ta không còn sinh sống ở đó nữa. Sau hơn 20 năm xa quê, nhân vật tôi trở về quê hương của mình, khung cảnh làng quê đã không còn như trước nữa mà trở nên tiêu điều, hoang vắng. Nó khác xa với hình ảnh làng quê tươi đẹp trong kí ức của nhân vật. Mục đích của nhân vật tôi trong chuyến về quê lần này là để đưa gia đình đến nơi khác sinh sống nhưng trong lòng mang nặng những nỗi buồn thương chỉ mong sao quê hương mình sẽ tốt đẹp hơn. Khi ấy có lẽ sẽ chẳng có ai muốn xa quê nữa.

Hình ảnh cố hương hiện ra đầy u ám ngay từ đầu tác phẩm. Cảnh vật hoang tàn và thê lương nằm im lìm dưới bầu trời màu vàng úa. Có lẽ không riêng gì nhân vật tôi, bất cứ ai khi nhìn thấy khung cảnh này đều thấy lòng mình se lại. Lục lại trong trí nhớ của mình, nhân vật tôi thấy làng tươi đẹp hơn bây giờ. Trong ký ức ấy “thầy tôi hãy còn, cảnh nhà còn sung túc, tôi đàng hoàng là một cậu ấm”. Tuổi thơ êm đẹp như vậy có ai mà không nhớ, không nuối tiếc cho được.

Sau sự xuất hiện của khung cảnh là sự xuất hiện của con người nơi làng quê.Đó là người mẹ rừng rỡ chạy ra đón con nhưng ẩn chứa đằng sau cái nét mừng rỡ ấy vẫn là một nỗi buồn thầm kín. Đó là bởi sự lưu luyến và nhớ thương khi sắp phải xa quê. Trong những ngày về quê, nhân vật tôi còn gặp một vài người khác như cháu Hoàng, chị Hai Dương, Nhuận Thổ,…

Nhuận Thổ đến chơi sau khi nghe tin nhân vật tôi về quê. Lục trong ký ức của mình, trong đầu nhân vật tôi hiện lên hình ảnh cậu bé Nhuận Thổ chạc mười tuổi có nước da bánh mật, khuôn mặt tròn trĩnh, đầu đội mũ lông chiên và cổ đeo vòng bạc. Đó là một cậu bé khỏe mạnh, lanh lợi và biết rất nhiều chuyện lạ lùng. Trước đây bố con Nhuận Thổ đi ở tháng cho nhà nhân vật tôi nên giữa nhân vật tôi và Nhuận Thổ từng có mối quan hệ chủ tớ. Tuy nhiên hai người gắn bó với nhau bình đẳng như những người bạn.

Quá khứ là vậy, hiện thực thì khác xa. Nhuận Thổ nay cao gấp đôi lúc trước, nước da vàng sạm, trên gương mặt có những nếp nhăn sâu hoắm, mi mắt thì viền đỏ húp mọng lên. Cái mũ lông chiên ngày xưa đã thay bằng cái mũ lông rách tươm. Trên tay Nhuận Thổ cầm một bọc giấy và một tẩu thuốc lá dài, người co ro cúm rúm trong một chiếc áo bông mỏng dính. Đôi bàn tay hồng hào, cứng rắn, mập mạp xưa kia cũng không còn mà thay vào đó là đôi bàn tay thô kệch, nặng nề, nứt nẻ. Sự thay đổi của Nhuận Thổ cũng bởi vì cuộc sống khốn khó mà ra. Bộ mặt hớn hở của Nhuận Thổ khi gặp nhân vật tôi cũng không giúp cậu che dấu đi được sự thê lương của mình. Không thê lương làm sao được khi mà con đông, mùa mất, thuế nặng, lính tráng, trộm cướp cứ bủa vây. Nhìn người bạn năm xưa như vậy nhân vật tôi không khỏi xót xa. Xã hội phong kiến với những hà khắc đã khiến con người sa sút kinh tế. Thêm vào đó, người nông dân lạc hậu không biết đấu tranh cho chính mình. Nhuận Thổ cũng là một trong những người như vậy.

Ngoài Nhuận Thổ, trong kí ức của nhân vật tôi còn có chị Hai Dương với biệt danh nàng Tây Thi đậu phụ. Hồi ấy chị Hai Dương trẻ trung, đẹp người, đẹp nết vậy mà giờ cũng đã trên dưới 50. Cách miêu tả chị Hai Dương của thời hiện tại khiến người đọc không thể hình dung ra được vẻ đẹp của chị thời còn trẻ: “lưỡng quyền nhô ra, môi mỏng dính, hai tay chống nạnh, không buộc thắt lưng, chân đứng chạng ra, giống hệt cái com-pa trong bộ đồ vẽ, có hai chân bé tí”. Tính cách của chị đã trở nên chua ngoa và đanh đá.

Như vậy ở hai nhân vật Nhuận Thổ và chị Hai Dương không chỉ có sự thay đổi về ngoại hình mà còn có sự thay đổi về tính cách. Thông qua sự thay đổi của 2 nhân vật này, tác giả muốn nhấn mạnh đến sự sa sút về các mặt của đời sống xã hội. Đáng buồn thay, lối sống của những con người lao động lại có sự thay đổi theo chiều hướng tiêu cực.

Cái hình ảnh đẹp đẽ của quê hương nay đã chẳng còn nữa, vậy nên khi rời đi nhân vật tôi cũng không chút lưu luyến. Ở giữa làng quê, nhân vật tôi cảm thấy ngột ngạt và lẻ loi. Cảnh vật thì tiêu điều, con người thì nghèo khổ, tàn tạ, ngoa ngoắt và vụ lợi. Bên cạnh những người đến để đưa chân gia đình nhân vật tôi thì cũng có người đến để lấy đồ đạc. Dù hư hỏng, to nhỏ, xấu tốt gì họ cũng lấy đi hết. Lúc nằm trên thuyền nghe tiếng nước vỗ, nhân vật tôi chỉ mong sao cho Thủy Sinh và Hoàng không bị cách bức nhau như mình và Nhuận Thổ. Không muốn chúng nó vì khốn khổ mà đần độn như Nhuận Thổ, cũng không vì thân thiết nhau mà phải vất vả, chạy vạy như mình lại càng không muốn chúng vì khốn khổ mà trở nên nàn nhẫn như bao người khác. Thế hệ mai sau phải có cuộc đời tươi đẹp hơn thế hệ trước đó.

Hình ảnh con đường đã khép lại truyện ngắn Cố hương, đó là một hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng. Con đường, đó không chỉ là đường đi hàng ngày mà đó còn là con đường hướng đến tương lai tươi sáng. Vốn dĩ trên đời này không có đường, do người ta đi mãi nên thành đường đó thôi. Tác giả cũng mong muốn rằng con đường mới sẽ dẫn con người đến với cuộc sống tự do, đầy đủ, ấm no. Niềm tin vào sự thay đổi của làng quê cho ta thấy nhân vật tôi vẫn dành nhiều tình cảm cho quê hương của mình. Qua tình yêu ấy, Lỗ Tấn đã gửi gắm tư tưởng nhân đạo của mình.

Trong tác phẩm Lỗ Tấn đã sử dụng linh hoạt những thủ pháp nghệ thuật như hiện tại, hồi ức đan xen và đối chiếu lẫn nhau. Nhờ vậy mạch truyện có sự liên kết chặt chẽ. Mỗi nhân vật trong tác phẩm cũng hiện lên chân thực, rõ nét thông qua nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật. Bên cạnh đó, Lỗ Tấn cũng sử dụng những hình ảnh biểu tượng và các phương tiện biểu đạt tự sự, nghị luận, biểu cảm, miêu tả giúp cho tác phẩm thành công hơn.

Thông qua tác phẩm, Lỗ Tấn cũng muốn tố cáo và phê phán xã hội phong kiến cũ. Ông cũng đặt ra một vấn đề là con đường đi của người nông dân lao động. Khi chứng kiến sự ngu muội của người dân, ông đã dùng ngòi bút của mình để khích lệ tinh thần họ để họ có sự nhìn nhận lại và thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp hơn.

Bài văn hay Phân tích truyện ngắn Cố Hương của Lỗ Tấn lớp 9

Phân tích truyện ngắn Cố Hương của Lỗ Tấn lớp 9 – Bài làm 2

Hình ảnh quê hương đã in dấu lại trong sáng tác của rất nhiều những nghệ sĩ trong đó có Lỗ Tấn. Nhắc đến ông là nhắc đến một nhà văn nổi tiếng, có nhiều đóng góp cho kho tàng văn chương Trung Quốc nói riêng và thế giới nói chung. Các tác phẩm tiêu biểu của Lỗ Tấn phải kể đến: “AQ chính truyện”, “Thuốc”, “Nhật kí của một người điên”,… và sẽ là một thiếu sót lớn nếu chúng ta không nhắc đến truyện ngắn “Cố hương”.

Truyện ngắn này được Lỗ Tấn sáng tác vào năm 1923, nằm trong tập “Gào thét”. Nhan đề “Cố hương” có nghĩa là quê cũ, nơi mình đã sinh ra và lớn lên nhưng hiện tại mình không ở đó nữa. Truyện kể về việc nhân vật “tôi” trở về quê hương sau hơn hai mươi năm xa quê. Cảnh vật làng quê trở nên tiêu điều, hoang vắng chứ không còn là một làng quê tươi đẹp đến nỗi không có hình ảnh ngôn ngữ nào có thể diễn tả được như trong trí nhớ của nhân vật. “Tôi” về quê lần này với mục đích nhằm đưa gia đình đến nơi đất khách để làm ăn, sinh sống. Mang trong mình nỗi buồn thương, xót xa, nhân vật “tôi” ra đi với mong ước cuộc sống của làng quê mình sẽ tốt đẹp hơn.

Mở đầu tác phẩm là hình ảnh cố hương hiện ra với sự u ám, thôn xóm, cảnh vật hoang tàn và thê lương “nằm im lìm dưới bầu trời màu vàng úa”. Chứng kiến khung cảnh đó, nhân vật “tôi” không nén được cảm xúc, “lòng se lại”. Trong trí nhớ của nhân vật, làng cũ vốn đẹp hơn và cũng không xơ xác, ảm đạm như thực tại. Quê hương trong kí ức của nhân vật “tôi” là những ngày “thầy tôi hãy còn, cảnh nhà còn sung túc, tôi đàng hoàng là một cậu ấm” và cả những kỉ niệm của tuổi thơ thật đáng nhớ.

Hình ảnh con người ở làng quê dần được hiện lên qua sự khắc họa tài tình của tác giả. Người mẹ thấy con về đã “chạy ra đón” bằng vẻ mặt rất mừng rỡ nhưng “vẫn ẩn một nỗi buồn thầm kín”. Người mẹ ấy đã gắn bó với quê hương bao nhiêu năm, nay phải rời xa nó nên trong lòng cũng lưu luyến, thương nhớ. Những ngày ở quê, nhân vật tôi còn gặp một số người khác như Nhuận Thổ, chị Hai Dương, cháu Hoàng, …

Nghe tin nhân vật “tôi” về quê, Nhuận Thổ đã đến chơi. Trong kí ức của “tôi”, Nhuận Thổ là một đứa bé chạc mười tuổi, “khuôn mặt tròn trĩnh, nước da bánh mật, đầu đội mũ lông chiên bé tí tẹo, cổ đeo vòng bạc sáng loáng”. Hắn ta là một cậu bé khỏe mạnh, lanh lợi, biết nhiều chuyện lạ lùng không thể kể xiết. Nhân vật “tôi” và NhuậnThổ có mối quan hệ chủ tớ do trước đây bố con Nhuận Thổ đi ở tháng cho nhà “tôi”. Hai người thân nhau và trở thành bạn bè. Đây là mối quan hệ bình đẳng, gắn bó với nhau.

Nhưng trong quá khứ Nhuận Thổ khôi ngô, lanh lợi bao nhiêu thì con người anh ta ở hiện tại lại hoàn toàn trái ngược bấy nhiêu. Nhuận Thổ “cao gấp hai trước, nước da màu vàng sạm, lại có thêm những nếp răn sâu hoắm”, “mi mắt viền đỏ húp mọng lên”. Anh ta đội “cái mũ lông rách tươm, mặc một chiếc áo bông mỏng dính, người co ro cúm rúm, tay cầm một bọc giấy và một tẩu thuốc lá dài”. Bàn tay “hồng hào, lanh lẹn, mập mạp, cứng rắn” trước dây không còn nữa mà thay vào đó là đôi bàn tay  “vừa thô kệch vừa nặng nề, nứt nẻ như vỏ cây thông”. Cuộc sống khốn khó, vất vả đã khiến Nhuận Thổ trở nên như vậy. Khi trông thấy người bạn tuổi thơ năm xưa của mình, Nhuận Thổ “vừa hớn hở, vừa thê lương, môi mấp máy nhưng cũng nói không ra tiếng” rồi anh lấy một dáng điệu “cung kính” chào. Điệu bộ, cử chỉ ấy phần nào bộc lộ mặc cảm về thân phận hèn kém của mình. Hoàn cảnh “con đông, mùa mất, thuế nặng, lính tráng, trộm cướp, quan lại, thân hào đày đọa thân anh khiến anh trở thành đần độn, mụ mẫm đi”. Sự thay đổi ở con người Nhuận Thổ khiến nhân vật “tôi” rất buồn và xót xa. Nhuận Thổ biến đổi như vậy cũng là vì sự sa sút kinh tế, những hà khắc của xã hội phong kiến Trung Quốc và do lối sống lạc hậu của những người nông dân không biết đứng lên đấu tranh cho chính mình.

Làng quê ấy không chỉ có Nhuận Thổ mà còn có chị Hai Dương được mệnh danh là “nàng Tây Thi đậu phụ”. Ngày xưa chị đẹp người, đẹp nết, trẻ trung còn bây giờ chị đã là một người đàn bà trên dưới 50 tuổi, “lưỡng quyền nhô ra, môi mỏng dính, hai tay chống nạnh, không buộc thắt lưng, chân đứng chạng ra, giống hệt cái com-pa trong bộ đồ vẽ, có hai chân bé tí”. Những lời nói ngoa ngoắt của chị đã bộc lộ một tính cách chua ngoa, đanh đá. Bằng biện pháp so sánh tương phản, Lỗ Tấn đã khắc họa rõ nét sự thay đổi về ngoại hình lẫn tính cách của hai nhân vật này. Qua đó, ông cũng tái hiện lại sự sa sút về các mặt của đời sống xã hội, sự suy thoái, những thay đổi tiêu cực trong lối sống của con người lao động.

Xem thêm:  Top 10 bài văn mẫu tả con thỏ lớp 3 chọn lọc

Quê hương đẹp đẽ của nhân vật “tôi” chỉ còn đọng lại trong kí ức nên khi rời đi, nhân vật này “không chút lưu luyến”. Nhân vật “tôi” chỉ cảm thấy xung quanh là “bốn bức tường vô hình, nhưng rất cao, làm cho tôi vô cùng lẻ loi, ngột ngạt”. Ngột ngạt bởi cảnh vật làng quê hiu hắt, tiêu điều và sự thay đổi tiêu cực của con người. Họ trở nên tàn tạ, nghèo khổ, đần độn, ngoa ngoắt và vụ lợi. Có người đến để đưa chân, nhưng cũng có người đến để lấy đồ đạc. Họ lấy tất cả những đồ đạc trong ngôi nhà cũ, “hư hỏng, to nhỏ, xấu tốt đều mang đi sạch trơn như tuyết”. Nằm nghe nước vỗ vào mạn thuyền, nhân vật “tôi” mong ước cho Thủy Sinh và Hoàng không bị cách bức nhau như mình và Nhuận Thổ. Đồng thời “tôi cũng không muốn chúng nó vì thân thiết nhau mà phải vất vả, chạy vạy như tôi, cũng không muốn chúng nó phải khốn khổ mà đần độn như Nhuận Thổ, cũng không muốn chúng nó phải khốn khổ mà tàn nhẫn như bao nhiêu người khác”. Bọn trẻ phải sống một cuộc đời mới tốt đẹp hơn.

Tác giả đã khép lại “Cố hương” bằng hình ảnh con đường giàu ý nghĩa biểu tượng. Đây không chỉ là con đường đi thường ngày mà còn là con đường hướng con người đến cuộc sống tươi sáng, hạnh phúc hơn ở tương lai. Nhân vật “tôi” đã khẳng định: “kì thực trên mặt đất vốn làm gì có đường, người ta đi mãi thì thành đường thôi”. Con đường không có sẵn trong tự nhiên mà do chính con người tạo nên. “Tôi” luôn có niềm tin vào con đường mới sẽ giúp con người có một cuộc sống tự do, no ấm, đầy đủ hơn. Tình yêu quê hương mãnh liệt của nhân vật “tôi” được thể hiện qua niềm tin vào sự đổi thay của làng quê và con người theo hướng tích cực. Đó cũng là tư tưởng nhân đạo mà Lỗ Tấn kí thác trong tác phẩm của mình.

Truyện đã sử dụng linh hoạt những thủ pháp nghệ thuật như hiện tại, hồi ức, đối chiếu và xen kẽ nhau tạo nên một mạch truyện liên kết chặt chẽ. Bằng nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật tinh tế, nhà văn đã khắc họa được những nhân vật một cách rõ nét, sinh động và chân thực. Việc sử dụng hình ảnh biểu tượng và các phương thức biểu đạt tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận đã góp phần không nhỏ trong việc tạo nên sự thành công của tác phẩm.

Qua truyện ngắn này, bạn đọc có thể thấy được tiếng nói tố cáo, phê phán  xã hội phong kiến cũ đồng thời ông cũng đặt ra vấn đề con đường đi của người nông dân lao động và toàn thể xã hội. Ông đã dùng thứ vũ khí lợi hại là ngôn từ để “biến đổi tinh thần” nhân dân đang trong tình trạng “ngu muội” và hèn nhát”.

Phân tích truyện ngắn Cố Hương của Lỗ Tấn lớp 9 – Bài làm 3

Lỗ Tấn (1881 – 1936) là nhà văn cách mạng nổi tiếng của Trung Quốc. Truyện “ Cố hương”  là một truyện ngắn tuyệt hay và xúc động. Nó man mác một tình quê vơi đầy. Nó ghi lại một cách chân thực, cảm động ký ức tuổi thơ. Nó phản ánh số phận những con người quê hương với bao nỗi buồn thương và hi vọng.

Các nhân vật như tôi, mẹ tôi, cháu Hoàng, Nhuận Thổ, Thủy Sinh, chị Hai Dương – là những con người của quê hương, gợi ra bao nỗi buồn vui về nơi chôn rau cắt rốn sâu nặng nghĩa tình.

  1. Hình ảnh quê hương

Sau 20 năm xa cách “tôi” về thăm quê. Phải vượt qua 2000 dặm giữa một mùa đông lạnh giá. Lòng “tôi” bồi hồi khôn xiết. Gió lạnh vi vu thổi vào khoang thuyền. Gần về đến làng, trời càng u ám, xóm thôn xa dần, thấp thoáng tiêu điều, hoang vắng… lòng “tôi” se lại,  về quê thì phải vui sao lại buồn? “Tôi” tự hỏi có phải đây là làng cũ thân yêu trong ký ức nữa không?

Chuyến về thăm quê này rất đăc biệt, về để bán nhà, giao nhà lại cho chủ mới. Về để từ giã ngôi nhà cũ – nơi cả đại gia đình “chúng tôi” đời đời ở chung với nhau. Sao không buồn đươc, vì sau 20 năm đi xa, lần này “tôi” trở về là để “vĩnh biệt ngôi nhà yêu dấu và từ giã làng cũ thân yêu đem gia đình đến nơi đất khách tôi đang làm ăn sinh sống”.

Quê hương thường gắn liền với phần mộ tổ tiên ông bà. Trong “Cố hương”  không thấy nói đến. Tác giả chỉ xúc động nói đến ký ức tuổi thơ khoảng chừng 30 năm về trước. Một tình bạn đẹp tuổi thơ độ lên mười với Nhuận Thổ – con trai của một người làm thuê cho gia đình “tôi”. Nhờ Nhuận Thổ mà “tôi” được biết bao chuyện kỳ lạ: cách bẫy chim trên tuyết, con “tra”  lông da trơn như mỡ biết ăn dưa; bên bờ biển quê hương có nhiều vỏ sò đẹp và lạ: sò “mặt quỷ” và sò “tay Phật”. Nhờ Nhuận Thổ mà tôi cảm nhận được vẻ đẹp quê hương, với bao cảnh tượng thần tiên: “Một vầng trăng tròn vàng thắm treo lơ lửng trên nền trời xanh đậm, dưới là một bãi cát bên bờ biển, trồng toàn dưa hấu, bát ngát một màu xanh rờn”.

Quê hương cũ với bao kỷ niệm thời thơ bé. Đó là những ngày mà “thầy tôi hãy còn”, cảnh nhà sung túc… năm ấy nhà tôi đến lượt lo giỗ tổ. Giỗ vào tháng giêng. Lễ vật rất nhiều, các đồ tế rất sang, người đến lễ cúng rất đông… ,

Quê hương trong ký ức bao giờ cũng cảm động. Lỗ Tấn đã nói về hình ảnh quê hương trong hiện tại và trong quá khứ, lúc ở trên đường trở về, lúc gặp lại bạn cũ, người xưa. Có niềm vui nỗi buồn, 30 năm đã trôi qua, nhưng không bao giờ có thể quên được quê hương và tuổi thơ.

  1. Hình ảnh người mẹ quê nhà

Mẹ đã già. ” Tôi” đã trưởng thành, đi làm ăn xa, lưu lạc 20 năm trời nay mới về thăm quê, thăm mẹ. Lâu nay chỉ “gặp mẹ” và hỏi thăm mẹ qua nhũng cánh thư. Con vừa bước vào nhà, mẹ “đã chạy ra đón”. Mẹ già “rất mừng rỡ’’ gặp lại con trai sau những năm dài xa cách, thế nhưng “nét mặt vẫn ẩn nỗi buồn thầm kín”. Chắc là mẹ buồn vì thương nhớ người đã khuất, mẹ buồn vì cảnh nhà sa sút, phải bán nhà, theo con trai đến nơi đất khách quê người? Mẹ vẫn hiền hậu, săn sóc “tôi” như ngày “tôi” còn thơ bé: “Mẹ bảo tôi ngồi xuống nghỉ ngơi, uống trà…”.

Mẹ nói với con trai chuyện dọn nhà… Mẹ vẫn hiền từ như xưa: “Con hãy nghỉ  ngơi vài hôm, đi thăm các nhà bà con một chút rồi mẹ con mình lên đường ”. Nhắc đến Nhuận Thổ… “Mẹ tôi” động lòng. Gặp 2 bố con Nhuận Thổ, mẹ ân cần vồn vã. Mẹ thở than cho cảnh nhà anh ta, mẹ bàn với “tôi”: “Cái gì không cần chở đi thì cho anh ta hết. Cứ để cho tùy ý chọn, lấy cái nào thì lấy!”. Thương con cháu và thương người đó là hình ảnh người mẹ trong Cố hương.

Có một nhà thơ trẻ Việt Nam đã viết: “Quê hương là cầu tre nhỏ – Mẹ về nón lá nghiêng che”. Đọc Cố hương của Lỗ Tấn, nếu ai đó không hiểu được người mẹ thì làm sao cảm nhận được hình ảnh quê hương thân yêu. Bởi lẽ mẹ là quê hương, quê hương là mẹ! Tình yêu quê hương luôn luôn gắn liền thiết tha với người mẹ hiền mà ta yêu quý.

  1. Con người quê hương

Nhuận Thổ trước hết là tình bạn tuổi thơ. Ba mươi năm trước, “tôi” và Nhuận Thổ đã sống với nhau trong suốt một tháng giêng mà suốt đời “tôi” không thể nào quên được. Hình ảnh hắn thuở lên 10, lần đầu gặp tôi: “Khuôn mặt tròn trĩnh, nước da bánh mật, đầu đội mũ lông chiên bé tí tẹo, cổ đeo vòng bạc sáng loáng…”. Hắn “bẽn lẽn” với mọi người, nhưng “không bẽn lẽn” với chỉ riêng tôi. Hắn nói lên tỉnh, hắn được trông thấy những điều hắn chưa bao giờ trông thấy cả. Cũng như “tôi” nghe hắn nói chuyện bẫy chim sẻ, chuyện cầm đinh ba đâm con “tra” khi đi canh dưa, chuyện vỏ sò, vỏ ốc, v.v… là những chuyên lí thú, kỳ lạ. Ba mươi năm rồi, “tôi” nhớ đến Nhuận Thổ là nhớ đến gói quà hắn gửi cho tôi: một bọc vỏ sò và mấy thứ lông chim rất đẹp.

Không có tuổi thơ thì không có quê hương. Tình bạn tuổi thơ làm cho tình yêu quê hương mãi mãi tươi thắm. Đúng như Lỗ Tấn đã viết: “Bây giờ mẹ tôi nhắc đến Nhuận Thổ, kí ức tôi bỗng dưng sáng bừng lên trong chốc lát. Tôi cảm thấy tựa hồ tôi đã tìm  được quê hương tôi đẹp ở chỗ nào rồi. Hình ảnh Nhuận Thổ ấu thơ là hình ảnh quê hương, là “vành trăng non trên bầu trời xanh miền thơ ấu”. Nhuận Thổ là một phần rất nhỏ của Cố hương, là tình yêu quê hương.

Hình ảnh Nhuận Thổ trong hiện tại là nỗi đau, nỗi buồn về quê hương. Sau 30 năm xa cách nay găp lại, Nhuận Thổ thay đổi quá nhiều. Nước da “vàng xạm”, những nếp nhăn trên mặt “sâu hóm”. Cặp mắt, mí mắt “viền húp đỏ mọng lên”. Đầu đội một cái mũ lông chiên “rách tươm”, mặc một cái áo bông “mỏng dính” giữa lúc trời rét dữ! Người “co ro cúm rúm”, đôi bàn tay “vừa thô kệch, vừa nặng nề nứt nẻ như vỏ cây thông”. Thời gian đã tàn phá một con người về mặt ngoại hình. Sự nghèo khổ và vất vả làm tàn tạ một con người vốn cường tráng và dẻo dai. Gặp lại bạn cũ, Nhuận Thổ “vừa hớn hở vừa thê lương” mấp máy đôi môi nói không ra tiếng, sau mới “cung kính” nói được hai tiếng: “Bẩm ông!”. Lễ giáo và tôn ti trật tự của xã hội phong kiến đã tạo nên giữa đôi bạn “một bức tường khá dày ngăn cách”. “Tôi” như bị “điếng người” khi nghe anh ta nói. Nhìn người và nghe Nhuận Thổ nói “tôi” nặng trĩu trong lòng “trông anh ta phảng phất như một pho tượng đá” vô hồn và vô cảm.

Hình ảnh Nhuận Thổ trong hiện tại là hình ảnh một xứ sở, một miền quê xơ xác, tiêu điều, người nông dân bị bần cùng hóa, bị áp bức và bóc lột đến tận xương tủy: “mất mùa, thuế nặng, lính tráng, trộm cướp, quan lại, thân hào…”, “chỗ nào cũng hỏi tiền, chẳng có luật lệ gì cả”.

Thông qua việc tường thuật chuyến về quê lần cuối cùng của “tôi”, thông qua những rung cảm của “tôi” trước sự thay đổi, tàn tạ ghê gớm của làng quê, đặc biệt là Nhuận Thổ, tác giả đã lên án tội ác của chế độ phong kiến đối với nông dân, từ đó đặt ra vấn đề quyền sống và hạnh phúc của nhân dân trên con đường đi tới.

Nói đến con người quê hương trong Cố hương không thể nào không nhắc tới hình ảnh chị Hai Dương – “Tây Thi đậu phụ”, ngày xưa “phấn son” nổi danh tài sắc bây giờ đã trở thành một “bỉ vỏ” trơ tráo, lúc thì ăn cướp đôi tất tay, lúc thì lấy cái “cẩu khí sát” rồi chạy biến. Cũng không thể không nghĩ tới cháu Hoàng và Thủy Sinh, con trai thứ năm của Nhuận Thổ. Trẻ con xưa nay vẫn hồn nhiên và đáng yêu. Nghĩ đến những con người quê hương, “tôi” mong muốn những em bé quê hương sẽ không còn “phải khốn khổ và tàn nhẫn…”, mong mỏi chúng nó được sống “một cuộc đời mà chúng tôi chưa từng được sống”.

  1. Con đường

Phần cuối truyện Cố hương tác giả viết một câu văn rất lạ mà hay. Sau khi ông nói đến mọi thứ ” tượng gỗ” và “sùng bái tượng gỗ”, nói đến mong ước “gần gũi” và “xa vời”, nói đến “thực” và “hư’’ trong “hy vọng”, rồi ông hạ bút. Đó là suy ngẫm của “tôi”: “ Cũng giống như những con đường trên mặt đất; kỳ thực trên mặt đất vốn làm gì có đường. Người ta đi mãi thì thành đường thôi”. Có con đường mưu sinh phải xa quê. Có con đường tình nghĩa, không quản xa xôi, cách trở đã về thăm lại quê. Có con đường khổ ải. Có con đường hạnh phúc. Con đường gần, con đường xa, con đường hi vọng đi lên phía trước. Có con đường mòn… Cũng có chuyện phá lối mở đường. Con đường đến với mỗi người là con đường số phận. Con đường của mỗi dân tộc là con đường cách mạng. Phải chăng đó là ý tưởng sâu sắc về hình tượng con đường trong Cố hương.

Ca dao có câu:

Quê hương nghĩa nặng tình sâu,

Bể dâu biến đổi biết đâu là nhà

Đọc Cố hương của Lỗ Tấn, tôi bâng khuâng mãi về tiếng hát ấy từng vang vọng khắp miền Trung thân yêu của quê mẹ…

Loading...

Bài văn mẫu Phân tích truyện ngắn Cố Hương của Lỗ Tấn lớp 9

Phân tích truyện ngắn Cố Hương của Lỗ Tấn lớp 9 – Bài làm 4

Lỗ Tấn (1881 – 1936) là nhà tư tưởng lớn, nhà văn hiện thực nổi tiếng của Trung Quốc vào thời kì đầu thế kỉ XX. Sự nghiệp sáng tác mà ông để lại cho đời rất đồ sộ và đa dạng, trong đó có 17 tập tạp văn và hai tập truyện ngắn xuất sắc là Gào thét (1923) và Bàng hoàng (1926). Một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của tập Gào thét là truyện ngắn Cố hương.

Thông qua việc kể lại chuyến về quê lần cuối cùng và những suy ngẫm, rung cảm của bản thân trước sự thay đổi của cảnh vật và con người ở quê hương, tác giả đã kín đáo phê phán chế độ phong kiến hủ bại, đồng thời đề cập đến con đường giải phóng nông dân ra khỏi những ràng buộc vô hình nhưng nghiệt ngã của xã hội đương thời.

Xem thêm:  Top 7 bài văn mẫu Thuyết minh về cây nêu ngày Tết lớp 9 chọn lọc

Sau hai mươi năm sống xa nhà, tác giả về thăm quê cũ giữa mùa đông lạnh giá. Ngồi trên thuyền, thấy khung cảnh ven sông tiêu điều, lòng ông dâng lên cảm xúc buồn thương khó tả. Đây là lần ông về quê để cùng người thân giải quyết chuyện bán nhà, đưa gia đình đến nơi khác làm ăn.

Về đến nơi, ông được mẹ già chạy ra đón. Mọi người đang bận rộn thu dọn đồ đạc. Nghe mẹ nhắc tới Nhuận Thổ, tác giả lập tức nhớ lại những kỉ niệm thần tiên của thời thơ ấu.

Nhuận Thổ là con trai người làm mướn cho gia đình tác giả cách đây hơn hai chục năm. Lúc ấy, Nhuận Thổ mới lên mười. Mỗi lần theo cha đến nhà cụ chủ, Nhuận Thổ thường kể cho “cậu ấm” nghe cách bẫy chim sẻ, cách bắt con tra hay ăn trộm dưa và nhiều chuyện khác, khiến cho “cậu ấm” say mê, thán phục.

Tác giả gặp lại mấy người hàng xóm cũ, trong đó có Nhuận Thổ. Cuộc sống vất vả lam lũ đã khiến Nhuận Thổ thành một người hoàn toàn khác. Hình dáng tiều tụy, thảm hại, mặt mũi ngơ ngác, đần độn. Không còn chút dấu vết nào của Nhuận Thổ khi xưa.

Mấy ngày sau, cả gia đình tác giả rời quê. Khi con thuyền đã xa làng, tác giả vẫn trĩu nặng nỗi suy tư về cảnh vật và con người ở Cố hương. Ông cố gắng tìm ra nguyên nhân của sự thay đổi đáng buồn ấy và cầu mong cho con cháu của Nhuận Thổ sau này sẽ tìm ra cách sống mới để không còn phải khổ cực như ông cha nữa.

Cốt truyện có thể chia làm ba phần:

Phần một: Từ đầu đến… đang làm ăn sinh sống: Tác giả trên đường về quê. Phần hai: Từ Tinh mơ sáng hôm sau… đến… mang đi sạch trơn như quét: Những ngày tác giả ở quê. Phần còn lại: Tác giả cùng gia đình trên đường rời quê.

Truyện được kể ở ngôi thứ nhất. Nhân vật chính xưng là tôi. Quá khứ và hiện tại đan xen vào nhau. Nghệ thuật miêu tả vừa hiện thực vừa trữ tình.

Chất trữ tình đậm đà của tác phẩm thể hiện ở diễn biến tâm trạng của nhân vật. Từ phảng phất buồn đến đau xót (trên đường về quê). Từ đau xót đến bi quan (những ngày ở quê). Cuối cùng, lại nhen nhóm hi vọng (trên đường rời quê). Tuy vậy, dù buồn bã, đau xót hay hi vọng cũng đều là biểu hiện của tình cảm yêu mến quê hương sâu nặng. Cái hay của tác phẩm là thể hiện diễn biến tâm trạng ấy một cách sinh động, chân thật và hợp lí.

Mở đầu bài văn, tác giả bộc bạch tâm trạng của mình trong chuyến trở về cố hương: Tôi không quản trời lạnh giá, về thăm làng cũ, xa những hai ngàn dặm mà tôi đã từ biệt hơn hai mươi năm nay.

Chuyến đi này có tầm quan trọng và ý nghĩa rất lớn nên tác giả không thể không về, dẫu phải đi qua hai ngàn dặm đường, trong thời tiết mùa đông giá lạnh.

Cố hương là quê cũ, là những gì gắn bó tha thiết, thiêng liêng đối với mỗi người. Sau hai mươi năm phiêu bạt nơi đất khách, nay tác giả mới về quê nhà, mà về lần này là để đón cả gia đình đến nơi mình đang làm ăn sinh sống. Trở về không phải để sum họp mà là để biệt li, có thể là biệt li mãi mãi, bỏ lại tất cả mồ mả tồ tiên, ông bà, bỏ lại mảnh đất cắt rốn chôn nhau,.. Cho nên tâm trạng tác giả trìu nặng một mỗi buồn và nỗi buồn ấy lan sang cả cảnh vật:

Đang độ giữa đông. Gần về đến làng, trời lại càng u ám. Gió lạnh lùa vào khoang thuyền. Nhìn qua các khe hở mui thuyền, thấy xa gần thấp thoáng mấy thôn xóm tiêu điều, hoang vắng, nằm im lìm dưới vòm trời màu vàng úa. Không nén được, lòng tôi se lại.

Trải qua thời gian dài đằng đẵng, biết bao vật đổi sao dời. Nhà văn bâng khuâng tự hỏi lòng: A, đây thật có phải là làng cũ mà hai mươi năm trời nay tôi hằng ghi lấy hình ảnh trong kí ức không?

Cảnh quê vốn tiêu điều, hoang vắng, nay hiện lên trước mắt người xa xứ đã lâu, lại càng nhuốm sắc thê lương, ảm đạm. Tác giả không tin vào kí ức của mình và cho rằng vì tâm trạng mình đang buồn nên nhìn cảnh mới ra như thế:

Hình ảnh làng cũ trong kí ức tôi không giống hẳn như thế này. Làng cũ tôi đẹp hơn kia. Nhưng nếu phải nhớ rõ đẹp như thế nào, nói rõ đẹp ở chỗ nào thì thật không có hình ảnh ngôn ngữ nào diễn tả ra cho được. Phảng phất thì cũng có hơi giống đấy. Tôi nghĩ bụng: Hẳn làng cũ mình vốn chỉ như thế kia thôi, tuy chưa tiến bộ hơn xưa, nhưng cũng vì tắt đèn nên thê lương như mình tượng. Chẳng qua là tâm tình mình đã đổi khác, bởi vì về thăm chuyển này, lòng mình đang không vui.

Về thăm quê chuyến này, ý định là để từ giã nó lần cuối cùng. Ngôi nhà cũ nơi cả đại gia đình chúng tôi đời đời ở chung với nhau, mà chúng tôi đã phải đồng tình bán cho người ta rồi, nội năm nay, phải giao cho họ. Vì thế, tôi cần phải về trước Tết, vĩnh biệt ngồi nhà yêu dấu và từ giã làng cũ thân yêu, đem gia đình đến nơi đất khách tôi đang làm ăn, sinh sống.

Đoạn văn phản ánh sự thay đổi theo chiều hướng đáng buồn của cố hương và những cảm xúc bâng khuâng khó tả trong tâm trạng nhân vật. Đặt chân lên bờ, tác giả thấy quang cảnh trong làng cũng giống như quang cảnh Ven sông:

Tinh mơ sáng hôm sau, tôi về tới cổng nhà. Trên mái ngói, mấy cọng tranh khô phất phơ trước gió, đủ rõ nhà không đổi chủ không được. Những gia đình khác có lẽ đã dọn đi rồi, cho nên cảnh tượng càng hiu quạnh.

Về đến nhà, bàn chuyện dọn nhà xong xuôi, bà mẹ kể rằng có anh Nhuận Thổ lần nào đến chơi cũng nhắc đến con và rất mong có ngày được gặp con. Mẹ đã nhắn tin cho anh ấy biết chừng ngày nào con về. Có lẽ anh ấy cũng sắp đến thôi.

Nghe mẹ nói, bất chợt trong kí ức nhà văn, hình ảnh làng quê với những cảnh vật và con người năm xưa- hiện lên rõ ràng từng chi tiết:

Lúc bấy giờ, trong kí ức tôi bỗng hiện ra một cảnh tượng thần tiên, kì dị: Một vầng trăng tròn vàng thắm treo lửng lơ trên nền trời xanh đậm, dưới là một bãi cát bên bờ biển, trồng toàn dưa hấu, bát ngát một màu xanh rờn. Giữa ruộng dưa, một đứa bé trạc mười một, mười hai tuổi, cổ đeo vòng bạc, tay lăm lăm cầm chiếc đinh ba, đang cố sức đâm theo một con tra. Con vật bỗng quay lại, luồn qua háng đứa bé, chạy mất.

Tác giả nhớ như in hình ảnh của người bạn nhỏ cách đây hai chục năm. Bắt đầu là cảnh Nhuận Thồ xuất hiện vào ngày giỗ lớn cua gia đình tác giả. Đó là cậu bé xinh xắn, khỏe mạnh, khuôn mật tròn trĩnh, nước da bánh mật, đầu đội mũ lông chiên bé tí tẹo, cổ đeo vòng bạc sáng loáng,., Tiếp sau đó là những kỉ niệm về người bạn đáng yêu thuở thiếu thời.

Nhuận Thổ hay kể chuyện bảy chim: Làng em toàn đất cát, hễ tuyết xuống là em quét lấy một khoảng đất trống, dùng một cây que ngắn chống một cái nong lớn, rắc ít lúa lép, thấy chim tước xuống ăn, đứng đằng xa giật mạnh sợi dây buộc vào cái que, thế là chim bị chụp vào nong hết. Thứ nào cũng có: sẻ đồng, chào mào, “bột cô”, sẻ xanh lưng.

Hết chuyện bẫy chim đến chuyện rủ “cậu ấm” đi chơi bờ biển : Đến mùa hè, anh xuống nhà em chơi. Ban ngày, chúng mình ra biển nhặt vỏ sò, màu đỏ có, màu xanh có, đủ cả. Có cả sò “mặt quỷ”, sò “tay phật”.

Rồi chuyện về con tra kì lạ như trong cổ tích : Ở làng em, người đi qua đường khát nước hái một quả dưa ăn, không kề là lấy trộm. Canh là canh lợn rừng, nhím, tra. Này nhé ! Sáng trăng. Có tiếng sột soạt. Tra đang ngốn dưa đấy Ị Thế là cầm đinh ba khe khẽ tiến lên…

Thời ấy, trước con mắt của “cậu ấm” con chủ nhà thì Nhuận Thổ là tiểu anh hùng, là người từng trải : Trời ! Nhuận Thổ hẳn biết nhiều chuyện lạ lùng lắm, kể không xiết! Những chuyện đó, bạn bè tôi từ trước đến nay, không ai biết cả. Chúng nó không biết là vì trong khi Nhuận Thổ sống bên bờ biển thì chứng nó, cũng như tôi, chỉ nhìn một mảnh trời vuông trên bốn bức tường cao bao bọc lấy cái sân mà thôi!

Tình bạn tuổi thơ giữa tác giả và Nhuận Thổ thật trong sáng và đằm thắm. Nhưng tiếc thay, đã hết tháng giêng. Nhuận Thổ phải về quê hắn. Lòng tôi xôn xang, tôi khóc to lên. Hắn lẩn trong bếp, cũng khóc mà không chịu về. Nhưng rồi bố hắn cũng lôi hắn đi Sau đó, hắn có nhờ bố hắn mang lên cho tôi một bọc vỏ sò và mấy thứ lông chim rất đẹp. Tôi căng cổ vài lần gửi cho hắn ít quà. Nhưng từ đấy chúng tôi không hề gặp mặt nhau nữa.

Tác giả đã lấy hình ảnh tươi đẹp trong quá khứ đối chiếu với hình ảnh Nhuận Thổ trong hiện tại để nêu bật chủ đề tác phẩm. Sau hai mươi năm cách biệt, nay hai người mới gặp lại nhau: Người đi vào là Nhuận Thổ. Tuy tôi nhận ra ngay là Nhuận Thổ, nhưng lại không phải là Nhuận Thổ trong kí ức tôi. Anh cao gấp hai trước, khuôn mặt tròn trĩnh, nước da bánh mật trước kia nay đã đổi thành sạm, lại có thêm những nếp răn sâu hoắm. Cặp mắt giống hệt cặp mái anh ngày trước, mi mắt viền đỏ húp mộng lên. Tôi không lấy làm lạ, ở miền biển, gió thổi suốt ngày, đại để ai cũng thế cả. Anh đội một cái mủ lông chiên rách tươm, mặc một chiếc áo bông mỏng dính, người co ro cúm rúm, tay cầm một bọc giấy và một tẩu thuốc lá dài. Bàn tay này cũng không phải là bàn tay tôi còn nhớ, hồng hào, lanh lẹ, mập mạp, cứng rắn, mà vừa thô kệch vừa nặng nề, nứt nẻ như vỏ cây thông…

Nhuận Thổ đứng dừng lại, nét mặt vừa hớn hở vừa thê lương, môi mấp máy, nhưng cũng nói không ra tiếng. Rồi bỗng anh lấy một dáng điệu cung kính, chào rất rành mạch: Bẩm ông!

Sau đó, anh ta rón rén đưa ra một gói giấy và ấp úng: – Ngày đông tháng giá chẳng có gì, chỉ có ít đậu xanh của nhà phơi khô, xin ông…

Nghệ thuật tả thực của tác giả thật sắc sảo. Ông đã khắc họa sinh động chân dung một nông dân lam lũ, nghèo khó và đầy mặc cảm tự ti. Qua đó, ta có thể hình dung ra cảnh sống cơ cực, điêu đứng của Nhuận Thổ nói riêng và nông dân nói chung lúc bấy giờ.

Người bạn nhỏ khỏe mạnh, đáng yêu thuở nào giờ đây là một nông xơ xác, da mặt vàng xám vì nghèo đói. Ngày xưa, Nhuận Thổ là một cậu bé có khuôn mặt tròn trĩnh, nước da bánh mật, đầu đội mũ lông chiên, cổ đeo vòng bạc sáng loáng, được bố cưng chiều.

Về hình thức, Nhuận Thổ giờ đây đã hoàn toàn thay đổi, nhưng tận đáy lòng, Nhuận Thổ vẫn giữ nguyên tình bạn sâu nặng với “cậu chủ” ngày xưa. Nghe nói “cậu chủ” đã về nên Nhuận Thổ đến ngay và dù rất nghèo nhưng cũng không quên mang chút quà “cây nhà lá vườn” đến tặng “cậu chủ”. Chính điều đó làm cho những thay đôi trong quan hệ giữa hai người giờ đây trở nên phi lí.

Hai biện pháp nghệ thuật chính được tác giả sử dụng trong truyện là hồi ức và đối chiếu được kết hợp một cách nhuần nhuyễn, khéo léo để làm nổi bật sự thay đổi của con người và cảnh vật. Đồng thời, tác già đặt ra cho người đọc câu hỏi tại sao lại có sự thay đổi ghê gớm vậy?

Qua truyện, tác giả muốn nói đến tình cảnh đói nghèo của nông dân du nạn áp bức, tham nhũng nặng nề ở nông thôn, song điều ông quan tâm hơn cả là sự thay đổi tinh thần theo chiều hướng xấu của họ, thể hiện qua tính cách của thím Hai Dương, của những người khách mượn cớ đưa tiễn để lấy đồ đạc, đặc biệt là qua tính cách của Nhuận Thổ. Trong mọi thay đổi, điều làm cho tác giả ngạc nhiên, đau xót đến “điếng người đi” chính là mối quan hệ giữa Nhuận Thổ và mình.

Bằng thủ pháp đối chiếu và tương phản, tác giả đã phản ánh tình cảnh suy thoái về mọi mặt của xã hội phong kiến Trung Quốc đầu thế kỉ XX. Ông phân tích nguyên nhân và lên án các thế lực hủ bại đã đẩy xã hội vào thực trạng đáng buồn. Bên cạnh đó, Lỗ Tấn cũng chỉ ra những mặt tiêu cực nằm ngay trong tâm hồn, tính cách của người lao động.

Những nông dân như Nhuận Thổ không chỉ khổ vì con đông, mùa mất, thuế nặng, lính tráng, trộm cướp, quan lại, thăn hào mà còn khổ sở đau đớn hơn nhiều bởi những quan niệm cũ kĩ về đẳng cấp, bởi sự đè nén, áp bức của giai cấp thống trị, bởi mê tín dị đoan… Nhuận Thổ xin bằng được đồ thờ của gia đình chủ cũ chắc là để mong cho đời mình đỡ khổ:

Xem thêm:  Top 8 bài văn mẫu Nghị luận xã hội về biến đổi khí hậu lớp 9 chọn lọc

Khi Nhuận Thổ xin chiếc lư hương và đôi đèn nến, tôi cười thầm, cho rằng anh ta lúc nào cũng không quên sùng bái tượng gỗ.

Để làm nổi bật sự thay đổi ghê gớm đó, tác giả không chỉ đối chiếu tính cách của từng nhân vật trong quá khứ với hiện tại mà còn đối chiếu nhân vật này với nhân vật kia, đặc biệt là đối chiếu giữa Nhuận Thổ ngày xưa với Thủy Sinh, con trai anh ta bây giờ. Cậu bé Nhuận Thổ cách đây hơn hai mươi năm hồng hào, khỏe mạnh, cổ đeo vòng bạc. Còn Thủy Sinh bây giờ ốm yếu vàng vọt, cổ không đeo vòng bạc…

Hình ảnh cố hương trong tác phẩm không chỉ mang ý nghĩa là nơi chôn nhau cắt rốn mà còn là bức tranh thu nhỏ của xã hội. Những thay đổi mà Lỗ Tấn đã miêu tả trong Có hương là những thay đổi có tính điển hình của xã hội Trung Quốc thời cận đại. Bởi vậy, qua việc miêu tả sự thay đổi cụ thể của một làng quê, Lỗ Tấn đã đặt ra vấn đề vô cùng bức thiết là phải xây dựng một cuộc đời mới tốt đẹp:

Tôi đang mơ màng thì trước mắt tôi hiện ra cảnh đồng cát, màu xanh biếc, cạnh bờ biển, trên vòm trời xanh đậm lơ lửng một vầng trăng tròn vàng thắm. Tôi nghĩ bụng: Đã gọi là hi vọng thì không thể nói đâu là thực, đâu là hư. Cũng giống như những con đường trên mặt đất; kì thực trên mặt đất vốn làm gì có đường. Người ta đi mãi thì thành đường thôi.

Trên mặt đất vốn dĩ không có đường. Đường là do con người giẫm nát cỏ ở chỗ chưa có đường mà tạo ra, là khai phá chỗ gai góc mà có… Trong cuộc sống, bất kể là gặp bao nhiêu gian nan trắc trở, chúng ta cần kiên định, bền gan vững chí để mở đường đi tới tương lai tươi sáng. Đó là thông điệp tâm huyết mà nhà văn Lỗ Tấn muốn gửi đến tất cả chúng ta.

Những bài văn mẫu Phân tích truyện ngắn Cố Hương của Lỗ Tấn lớp 9

Phân tích truyện ngắn Cố Hương của Lỗ Tấn lớp 9 – Bài làm 5

Cố hương   là một truyện ngắn trữ tình . Nhân vật trungtâm trong thiên truyện  ngắn là Nhuận Thổ . Nhuận Thổ là một nông dân .

Ðề tài của Cố hương   là đề tài nông dân . Nhân vật Nhuận Thổ được nhà văn Lỗ Tấn miêu tả trong hai thời điểm quá khứ và hiện tại . Khi xây dựng nhân vật Nhuận Thổ , tác giả đã dùng lối đồng hiện về thời gian . Trình tự thời gian không tuân từ quá khứ đến hiện tại , tương lai mà từ hiện tại đến quá khứ , từ quá khứ trở về hiện tại , từ hiện tại trở về quá khứ rồi đến tương lai . Câu chuyện bắt đầu từ thì hiện tại . Nhà văn kể lạichuyến về thăm quê hương lần cuối cùng sau hai mươi năm xa cách . Ðó là thì hiện tại . Sau đó , nhân vật tôi nghe người mẹ nhắc đến Nhuận Thổ thì hình ảnh Nhuận Thổ ba mươi năm về trước đã hiện lên theo dòng hoài niệm theo mạch hồi tưởng . Ðó là thì quá khứ . Khoảng cách thời gian mà nhân vật tôi xa Nhuận Thổ là ba mươi năm . Thời gian ấy so với lịch sử nhân loại hay một quốc gia thì ngắn ngủi , nhưng so với cuộc đời của một con người thì rất dài . Thủ pháp đồng hiện về thời gian đã rút ngắn khoảng cách thời gian để làm nổi bật SỰ TÀN TẠ VỀ THỂ XÁC VÀ SỰ THA HÓA VỀ TINH THẦN MỘT CÁCH NHANH CHÓNG CỦA NHUẬN THỔ .

Trong truyện ngắn này , tác giả đã nêu lên vấn đề : QUÁ TRÌNH THA HÓA CỦA NGƯỜI  NÔNG DÂN TRUNG QUỐC DƯỚI CHẾ ÐỘ XÃ HỘI CŨ.

Khi xây dựng nhân vật Nhuận Thổ , nhà văn đã kết hợp miêu tả ngoại hình với khắc họa nội tâm . Lỗ Tấn đã đặt nhân vật Nhuận Thổ trong mối quan hệ với hoàn cảnh  . Hoàn cảnh đó là nông thôn TrungQuốc dưới chế độ xã hội thuộc địa . Yếu tố hoàn cảnh được tác giả phác họa ngay ở đầu truyện : nhìn qua khe hở mui thuyền thấy thấp thoáng mấy thôn xóm tiêu điều hoang vắng nằm im lìm dưới bầu trời màu vàng úa . Cảnh làng quê nông thôn Trung Quốc được miêu tả rất tàn tạ , tiêu điều , xơ xác . Màu vàng úa là màu của sự tàn lụi , in dấu của sự thê lương ảm đạm . Trong hoàn cảnh nông thôn Trung Quốc tiêu điều xơ xác , có bao nhiêu người nông dân như Nhuận Thổ đã rơi vào tình trạng bị tha hóa . Việc đặt nhân vật Nhuận Thổ trong hoàn cảnh để miêu tả chứng tỏ Lỗ Tấn đã sáng tác truyện ngắn này bằng phương pháp của chủ nghĩa hiện thực ( tha hóa : hóa khác tha hóa là sự đánh rơi mất bản tính tốt vốn có của mình ) .

Nhân vật Nhuận Thổ trong thì quá khứ ( ba mươi năm về trước ) là một chú bế nông dân khỏe mạnh , đẹp về thể chất : ngây thơ , hồn nhiên trong trắng và thủy chung về tinh thần . Nhà văn đã miêu tả Nhuận Thổ hiện lên vừa đẹp vừa hùng giữa khung cảnh thơ mộng của quê hương bằng một đọan văn rất giàu tính tạo hình : Một vầng trăng tròn vàng thắm treo lơ lửng trên nền trời xanh đậm , dưới là một bãi cát bên cạnh bờ biển trồng toàn dưa hấu , bát ngát một màu xanh rờn . Giữa ruộng dưa , một đứa bé trạc 11 , 12 tuổi , cổ đeo vòng bạc , tay lăm lăm cầm chiếc đinh ba đang cố sức đuổi theo một con tra . Con vật bỗng quay lại , luồn qua háng đứa bé , chạy mất ( tra là tên tác giả bịa ra trên cở sở con heo rừng ) , về ngoại hình của Nhuận Thổ ba mươi năm về trước , Nhuận Thổ là một chú bé rất khỏe mạnh và rất đẹp : nước da bánh mật , cổ đeo vòng bạc , đầu đội một chiếc mũ lông chiên bé tí . Về nội tâm , ba mươi năm về trước , Nhuận Thổ là một chú bé nông dân rất hồn nhiên chân thực . Mặc dù có sự cách bậc về tầng lớp giai cấp ( gia đình         Nhuận  Thổ  thuộc  tầng  lớp  dưới ,  gia đình nhân vật  tôi thuộc  tầng lớp trên ) , nhưng khi Nhuận Thổ gặp nhân vật tôi thì hoàn toàn không hề có sự cách bậc mà sống chan hòa , cảm hòa với nhau . Nhuận Thổ gọi nhân vật tôi là anh và tự xưng là em rất thân mật , chân tình . Nhuận Thổ khoe những đặc sản của mình : có nhiều vỏ sò và lông chim rất đẹp , khoe trò bẫy chim và những đêm đi canh ruộng dưa dưới ánh trăng . Ngôn ngữ của chú bé Nhuận Thổ thể hiện đầy đủ sự ngây thơ trong trắng hồn nhiên của chú . Lúc Nhuận Thổ xa nhân vật tôi thì  Nhuận Thổ khóc tỏ ra lưu luyến , bịn rịn gắn bó với  nhân vật tôi . Sau khi xa nhân vật tôi , Nhuận Thổ không quên gửi cho nhân vật tôi một bịch vỏ sò và mấy thứ lông chim rất đẹp . Chi tiết này thể hiện tấm lòng thủy chung của Nhuận Thổ đối với bạn .

Ðó là Nhuận Thổ ba mươi năm về trước .

Sau ba mươi năm nhân vật Nhuận Thổ đã khác trước . Nhà văn tiếp tục miêu tả ngoại hình và nội tâm của nhân vật này . Về ngoại hình , trong thì hiện tại Nhuận Thổ cao gấp hai trước , nước da vàng xạm , trên khuôn mặt đã có nhiều nếp nhăn sâu hoắm , dáng co ro cúm núm , đầu đội một chiếc mũ lông chim rách bươm , da bàn tay nứt nẻ như vỏ cây thông . Ngoại hình của Nhuận Thổ trong thì hiện tại trông rất tiều tụy và tàn tạ .

Về nội tâm trong thì hiện tại , khi gặp lại nhân vật tôi , Nhuận Thổ đã chào cung kính : bẩm ông . Tiếng chào này thể hiện cách bậc . Tiếng chào ấy đã đẩy hai  người ra hai  bờ  của đại dương xa thẳm . Nhuận Thổ nói bằng giọng than thở , siếc lóc . Nhân vật than thở , siếc lóc về cảnh nghèo của mình . Cảnh nghèo của Nhuận Thổ là làm ăn không đủ ăn , sống rất cực khổ . Nhà văn đã để cho nhân vật Nhuận Thổ lý giải về nguyên nhân dẫn đến hòan cảnh nghèo khổ là: con đông , mùa mất , thuế khóa , lính tráng , trộm cắp . Ðể cho nhân vật lý giải như thê ú, Lỗ Tấn đã thể hiện một quan điểm tiến bộ. Nhà văn không xem sự nghèo khổ của Nhuận Thổ là do số phận , định mệnh mà là do chế độ xã hội . Trong hai nguyên nhân tự nhiên và xã hội , Lỗ Tấn đã nghiêng về nguyên nhân xã hội . Nhuận Thổ xin nhân vật tôi đủ thư ï. Nếu như 30 năm về trước , Nhuận Thổ là một chú bé vô tư thì giờ đây Nhuận thổ là một người nông dân rất vụ lợi , rất thực dụng và nhân vật Nhuận Thổ theo lời của thím Hai Dương thì Nhuận Thổ đã lấy cắp của gia đình nhân vật tôi dấu vào đống tro để chờ ngày đem về nhà mình . Nhuận Thổ đã trở thành một kẻ gian dối .

Trong thì hiện tại , Nhuận Thổ là một nông dân tàn tạ về thể xác , tha hóa về tinh thần . Lỗ Tấn đã miêu tả sự tha hóa của nhân vật Nhuận Thổ trong một quá trình và nhà văn đã lý giải một cách đúng đắn về nguyên nhân dẫn đến sự tha hóa của Nhuận Thổ . Ðó là một nguyên nhân xã hội . bên cạnh nhân vật Nhuận Thổ , tác giả còn xây dựng nhân vật thím Hai Dương – nàng Tây Thi đậu phụ – con người có dáng hình như một chiếc compa trong bộ đồ vẽ . Ngọai hình của nhân vật này cũng được tác giả phác họa : cao gầy , khô cứng . Nội tâm của nhân vật thiam Hai Dương được tác giả miêu tả qua ngôn ngữ và hành động của chính nhân vật này . Ngôn ngữ và hành động của nhân vạt nảythê hiện sự tham lam vụ lợi . Nhân vật phụ thím Hai Dương đã góp phần làm nổi bật thêm nhân vật trung tâm là Nhuận Thổ . thông qua hình tượng nhân vật phụ này , nhà văn đã khái quát được rằng : dưới chế độ xã hội cũ ở Trung Quốc thì sự tha hóa của Nhuận Thổ  không phải là cá biệt mà là phổ biến . Trong truyện Cố hương Lỗ Tấn còn sử dùng thủ pháp nghệ thuật so sánh đối lập song song để làm tăng thêm giá trị nhân đạo cho tác phẩm . Tình bạn của Nhuận Thổ với nhân vật tôi trong thì quá khứ đối lập với tình bạn của nhân vật tôi Nhuận Thổ trong thì hiện tại ( quá khứ thì tình bạn gắn bó thủy chung , hiện tại cách bậc , xa vời ) . Tình bạn giữa nhân vật Nhuận Thổ với nhân vật tôi trong thì hiện tại đối lập với tình bạn của nhân vật bé Hoằng và nhân vật Thủy Sinh trong thì hiện tại . Thủ pháp này một mặt tiếp tục làm rỏ thêm sự tha hóa  của Nhuận Thổ , nhưng mặt khác quan trọng hơn là đề cao tình bạn của tuổi thơ . Tình bạn của nhân vật Nhuận Thổ và nhân vật tôi trong thì quá khứ ba mươi năm về trước ) là tình bạn  của tuổi thơ và tình bạn của bé Hoằng và Thủy Sinh trong thì hiện tại cũng là tình bạn của tuổi thơ . Hai tình bạn này giống nhau ở chỗ đều là tình bạn của tuổi thơ , đều có sự gắn bó , thủy chung trong trắng . Ðề cao tình bạn của tuổi thơ là tình bạn của lứa tuổi ngây thơ , hồn nhiên trong trắng và chưa hề dính chút bụi đời . Tình bạn của tuổi thơ cũng là tình bạn rất đẹp . Ðề cao tình bạn của tuổi thơ là rất nhân đạo .

Ở cuối truyện , nhà văn đã tạo dựng hình ảnh tượng trưng . Ðó là hình ảnh con đường đi đến tương lai , hiện thân của niềm tin , niềm hi vọng của tác giả : Tôi nghĩ bụng : đã gọi là hy vọng thì không thể nói đâu là thực , đâu là hư . cũng gjiống như những con đường trên mặt đất  ; kỳ thực ,trên mặt đất vốn làm gì có đường . Người ta đi mãi thì thành đường thôi . Hình ảnh tượng trưng này cũng đã bộc lộ khát vọng về sự đổi thay của tác giả nên nó có giá trị . Khát vọng này chính là nhu cầu trần tục của con người trần tục của Lỗ Tấn .

Việc tác giả đề cao tình bạn của tuổi thơ cũng như thể hiện niềm khát vọng về sự đổi thay trong lai là rất nhân đạo . Song tinh thần nhân đạo của Lỗ Tấn thời mà ông viết Cố hương đã chịu sự chi phối của yhuyết tiến hóa , nên có hạn chế . Ông đề cao quan điểm tình bạn tuổi thơ theo quan điểm sinh mệnh của thế hệ trẻ sẽ hơn sinh mệnh của thế hệ già . Hình ảnh tượng trưng con đường đi tới tương lai ở cuối truyện là sự thể hiện của quan điểm : ngày mai sẽ hơn ngày hôm nay . Những quan điểm này đều mang đậm nét màu sắc của thuyết tiến hóa . Thuyết tiến hóa lý giải qui luật tiến hóa mang tính đặc thù của tự nhiên . Qui luật của xã hội không thể đồng nhất với quy luật của tự nhiên .Trong xã hội có qui luật riêng của xã hội . Ngày mai hơn ngày hôm nay trong xã hội không thể theo quy luật tự nhiên mà muốn như thế thì phải có đông lực đấu tranh bằng nhiều hình thức . Lỗ Tấn tin vào ngày mai có phần mơ hồ.

Trên đây là những bài văn mẫu Phân tích truyện ngắn Cố Hương của Lỗ Tấn lớp 9 hay nhất. Trong số các tác phẩm văn học nước ngoài nằm trong chương trình Ngữ Văn lớp 9, Cố Hương là một trong những truyện ngắn suất sắc. Các em hãy đọc kĩ tác phẩm và cùng với đó tham khảo những bài văn mẫu trên đây để làm bài thật tốt nhé.

 

Loading...