Hướng dẫn làm bài văn mẫu Bình giảng cảm nhận bài thơ Cảnh ngày xuân lớp 9 hay nhất. Bài hướng dẫn bao gồm các bài văn mẫu để các em tham khảo.

Cảnh ngày xuân là một đoạn trích nằm trong tác phẩm Truyện Kiều nổi tiếng của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du. Mùa xuân vẫn được biết đến là mùa của sự sinh sôi, mùa của sức sống mới, là mùa khởi đầu cho một năm. Mùa xuân đã trở thành nguồn cảm hứng cho biết bao nghệ sĩ. Với Nguyễn Du, ông cũng có góc nhìn riêng của mình về mùa xuân. Nếu tách riêng đoạn trích thì Cảnh ngày xuân cũng giống như một bài thơ hoàn chỉnh. Cùng tham khảo bài văn mẫu Bình giảng cảm nhận bài thơ Cảnh ngày xuân lớp 9 dưới đây để biết cách làm bài em nhé.

Bình giảng cảm nhận bài thơ Cảnh ngày xuân lớp 9 – Bài làm 1

Nguyễn Du là một bậc thầy của thi ca Việt Nam. Những vần thơ của ông sống động như tranh vẽ. Nó khiến người đọc vừa được đọc, vừa được mặc sức tưởng tượng. Đây là chân dung của Thúy Vân, Thúy Kiều, kia là cảnh Kiều và Kim Trọng đang thề ước. Khung cảnh nào cũng vô cùng đẹp đẽ. Chẳng những khéo tả người, Nguyễn Du còn khéo tả cảnh. Cảnh ngày xuân là một đoạn trích thể hiện rõ được ngòi bút tài hoa của Nguyễn Du trong việc tả cảnh.

Sau khi miêu tả sắc đẹp “mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười” của chị em Thúy Kiều, Nguyễn Du khiến người đọc thích thú với những câu thơ miêu tả ngày xuân. Có lẽ, đây là đoạn thơ hiếm hoi trong tác phẩm Truyện Kiều mang đến cho người đọc cảm giác tươi vui, náo nhiệt. Lúc này, chị em Thúy Kiều vẫn là những cô gái hồn nhiều, vô tư đi dự hội và ngắm cảnh ngày xuân:

Ngày xuân con én đưa thoi

Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi

Hình ảnh cánh en gợi ta nhớ ngay đến mùa xuân khi mà từng đàn én bay trên bầu trời. Đó là hình ảnh của sự tự do, bình yên. Chỉ tiếc là cuộc đời của Thúy Kiều sau này không được tự do như cánh én kia. Ở đây, Nguyễn Du đã so sánh hình ảnh con én bay như đưa thoi như một điềm báo trước về tương lai. Đưa thoi là hình ảnh gắn liền với khung dệt, chúng đưa đi đưa lại gợi cho ta liên tưởng đến việc thời gian trôi qua nhanh chóng. Sự yên bình của con én có lẽ không kéo dài được lâu nữa. Câu thơ tiếp theo càng chứng minh cho người đọc thấy mùa xuân không còn nhiều. Chúng đã kéo dài được hơn 60 ngày rồi và giờ là lúc mà mùa xuân đã sắp tàn.

Dẫu vậy, bức tranh mùa xuân vẫn tiếp tục được mở rộng ra với màu sắc tươi sáng:

Cỏ non xanh tận chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

Cả một bức tranh mùa xuân rực rỡ màu xanh của cỏ hiện ra. Trong bức tranh chỉ có hai màu xanh và trắng nhưng lại góp phần mang đến sự bình yên. Mùa xuân ấy mới thanh khiết, mới tinh khôi và giàu sức sống làm sao. Chỉ một vài bông hoa lê trắng được điểm tô thôi nhưng cũng đủ để bức tranh trở nên sống động.

Lễ hội Thanh minh hiện lên trong 8 câu thơ tiếp theo cũng thật náo nhiệt, đúng với không khí của cảnh ngày xuân:

Thanh minh trong tiết tháng ba

Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh

Gần xa nô nức yến anh

Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân

Dập dìu tài tử giai nhân

Ngựa xe như nước, áo quần như nêm

Lễ tảo hộ, hội đạp thanh là hai hoạt động chính trong ngày Tết Thanh minh. Ngày Tết thì bao giờ cũng đông vui. Tính từ gần xa, nô nức đã cho chúng ta thấy rõ điều đó. Chẳng những người ở gần, người ở xa cũng háo hức đến dự lễ hội. Động từ sắm sửa, dập dìu cho thấy sự náo nhiệt của ngày hội. Nào là yến anh, nào là chị em rồi tài tử giai nhân đủ cả. Những hình ảnh so sánh “ngựa xe như nước”, “áo quần như nêm” lại càng chứng tỏ cho sự đông vui ấy. Người người chen chúc nhau, ríu rít như chim. Chị em Thúy Kiều cũng nằm trong số những người đi dự lễ hội. Và trong ngày Tết có tính cổ truyền như vậy không thể nào thiếu được nét tín ngưỡng truyền thống của người Việt đó là đốt vàng mã:

Ngổn ngang gò đống kéo lên

Thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay

Đây là cách để những người còn sống bày tỏ sự nhớ thương đối với những người đã khuất. Người Việt quan niệm rằng nếu đốt vàng mã thì người thân của mình ở thế giới bên kia sẽ nhận được.

Ngày vui nào rồi cũng đến lúc phải tàn. Chị em Thúy Kiều du xuân trở về được nhà thơ Nguyễn Du diễn tả bằng những câu thơ:

Tà tà, bóng ngả về tây

Chị em thơ thẩn dan tay ra về

Bước dần theo ngọn tiểu khê

Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh

Nao nao dòng nước uốn quanh

Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang

Trời chiều, bóng đã ngả về tây nhưng cái dịu dàng của mùa xuân thì vẫn không có gì thay đổi. Thậm chí, mùa xuân còn được khắc họa đậm nét hơn với cái nắng nhạt màu, với dòng nước uốn quanh và nhịp cầu bắc ngang. Ai nấy đều đã toan trở về, mùa xuân bớt náo nhiệt đi mà thay vào đó là “có bề thanh thanh”. Một loạt những từ láy như tà tà, thanh thanh, nao nao, nho nhỏ như để bộc lộc tâm trạng của con người. Tâm trạng ấy nhuốm màu lên cảnh vật. Đó lại là một dự báo trước của Nguyễn Du cho số phận của nàng Kiều.

Cách miêu tả của Nguyễn Du rất cụ thể và cũng nhiều tầng nghĩa. Xa có, gần có, cao có, thấp có, màu sắc có, đường nét có, hình khối có. Trong cảnh bao giờ cũng ẩn chứa chút tình, mượn cảnh để ngụ tình. Tất cả cho thấy sự tinh tế trong ngòi bút của Nguyễn Du.

Rõ ràng đoạn trích đã miêu tả được bức tranh mùa xuân sinh động, vui tươi. Nhưng qua đó, ta thấy được chút tâm trạng của Thúy Kiều. Sức hấp dẫn của thơ Nguyễn Du chính là ở chỗ ấy.

Bài văn hay Bình giảng cảm nhận bài thơ Cảnh ngày xuân

Bình giảng cảm nhận bài thơ Cảnh ngày xuân lớp 9 – Bài làm 2

Trong “Truyện Kiều”, Nguyễn Du đã bao lần dụng công khắc họa những bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp mang theo tâm trạng của con người. Cảnh nào cũng đẹp, cũng có hồn, cũng như một dự cảm về tương lai. “Cảnh ngày xuân” là một bức tranh như thế. Đoạn trích miêu tả bức tranh thiên nhiên ngày xuân trong tiết Thanh minh tươi đẹp, trong sáng với lễ hội mùa xuân tưng bừng, náo nhiệt.

Đoạn trích “Cảnh ngày xuân” nằm ở phần một “Gặp gỡ và đính ước”, ngay sau đoạn tả tài sắc chị em Thúy Kiều là đến đoạn tả cảnh ngày xuân trong tiết thanh minh. Đoạn trích miêu tả bức tranh thiên nhiên ngày xuân trong tiết thanh minh tươi đẹp, trong sáng với lễ hội mùa xuân tưng bừng, náo nhiệt. Mạch cảm xúc men theo trình tự thời gian, không gian, theo bước chân của chị em Thúy Kiều trong buổi du xuân. Những câu thơ đầu tiên mở ra cảnh ngày xuân tươi đẹp:

 “Ngày xuân con én đưa thoi

Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi”

Hai câu thơ vừa gợi không gian, vừa gợi thời gian. Giữa bầu trời bao la, mênh mông là những cánh én bay qua bay lại như đưa thoi. Hình ảnh ảnh “én đưa thoi” là một ẩn dụ nhân hóa rất gợi hình, gợi cảm: con én chao liệng trên bầu trời xuân rất nhanh như con thoi chạy đi chạy lại trên khung dệt gợi ra thời gian trôi rất nhanh cùng cảm giác bâng khuâng, tiếc nuối trong lòng người khi ngày vui không còn nhiều. Cảm giác tiếc nuối được thể hiện rõ nhất trong hình ảnh “Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi” – ánh sáng ấm áp của mùa xuân đã trở đi trở lại hơn sáu mươi ngày, tiết trời đã vào cuối xuân. Hai câu thơ tiếp là một bức họa tuyệt đẹp về cảnh ngày xuân:

“Cỏ non xanh tận chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

Ở đây thảm cỏ xanh non trải rộng tới chân trời là gam màu nền cho bức tranh xuân. Trên nền màu xanh non ấy điểm xuyết một vài bông lê màu trắng. Màu sắc có sự hài hòa đến mức tuyệt diệu: cỏ xanh, hoa trắng, hai gam màu dịu nhẹ làm tôn lên vẻ đẹp của nhau. Tất cả đều gợi lên vẻ đẹp riêng của mùa xuân: mới mẻ, tinh khôi, giàu sức sống, nhẹ nhàng mà thanh khiết. Chữ “điểm” làm cho cảnh vật trở nên sống động, bức tranh xuân trở nên có hồn mà không hề tĩnh tại.

Tám câu thơ tiếp theo là nét vẽ về cảnh lễ và hội trong tiết Thanh minh:

 “Thanh minh trong tiết tháng ba

Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh.

 Gần xa nô nức yến anh,

Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân

 Dập dìu tài tử giai nhân,

Ngựa xe như nước, áo quần như nêm.

Trong ngày Thanh minh có hai hoạt động diễn ra cùng một lúc là lễ tảo mộ và hội đạp thanh. Một loạt những từ hai âm tiết là danh từ, động từ, tính từ xuất hiện. Các danh từ “yến anh, chị em, tài tử, giai nhân” gợi lên sự đông vui, nhiều người cùng đến dự hội. Các động từ “sắm sửa, dập dìu” gợi lên sự tưng bừng, náo nhiệt của ngày hội. Các tính từ “gần xa, nô nức” làm rõ tâm trạng của những người đi hội. Cùng với các hình ảnh so sánh “ngựa xe như nước, áo quần như nêm” và cách nói ẩn dụ “nô nức yến anh” gợi lên sự đông vui, nhộn nhịp, ngựa xe trẩy hội như dòng nước, áo quần chen chúc như nêm, từng đoàn người đi chơi xuân như chim én, chim oanh ríu rít. Trong lễ hội mùa xuân, đông vui, tấp nập nhất là những nam thanh, nữ tú trong đó có chị em Thúy Kiều. Niềm vui từ tâm hồn họ hòa cùng niềm vui của mọi người lan tỏa rộn ràng như sóng cỏ mùa xuân. Qua cuộc du xuân của chị em Thúy Kiều, tác giả còn khắc họa một truyền thống văn hóa, lễ hội xa xưa của người Việt:

 “Ngổn ngang gò đống kéo lên

Thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay.”

Trong tiết Thanh minh, mọi người sắm sửa lễ vật để đi tảo mộ, người ta rắc thoi vàng, đốt giấy tiền vàng mã để tưởng nhớ tới những người thân đã mất.

Ngày tàn, hội tan, những câu thơ cuối đoạn trích gợi cảnh chị em Kiều du xuân trở về:

“Tà tà, bóng ngả về tây,

Chị em thơ thẩn dan tay ra về.

Bước dần theo ngọn tiểu khê,

Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.

Nao nao dòng nước uốn quanh,

 Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.”

Cảnh vật vẫn mang cái thanh, cái dịu của mùa xuân: nắng đương nhạt, khe nước nhỏ, một nhịp cầu bắc ngang, mọi chuyển động đều nhẹ nhàng. Mặt trời từ từ ngả bóng về tây, bước chân con người thơ thẩn. Cái không khí rộn ràng, náo nhiệt của ngày hội không còn nữa mà tất cả đang nhạt dần, lặng dần. Những từ láy được sử dụng với mật độ dày: tà tà, thanh thanh, nao nao, nho nhỏ. Các từ láy không chỉ miêu tả cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng con người: hai chữ “nao nao” dễ nhuốm màu tâm trạng lên cảnh vật. Đó không chỉ là cảm giác bâng khuâng, xao xuyến về một ngày vui xuân sắp tàn mà còn là dự cảm về một điều sắp xảy ra. Dòng nước uốn quanh, nao nao như muốn báo trước ngay sau lúc này đây, Kiều sẽ gặp nấm mộ Đạm Tiên là hiện thân cho kiếp đoạn trường mười lăm năm lưu lạc.

Đoạn trích “Cảnh ngày xuân” đã cho thấy nghệ thuật tả cảnh tài tình của Nguyễn Du. Cảnh được tả bằng sự kết hợp giữa bút pháp gợi tả và đặc tả có xa, có gần, có thấp, có cao, có điểm, có diện, có hình khối, có đường nét, màu sắc. Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đạt đến độ sắc sảo, tinh tế của một ngòi bút có tầm Nguyễn Du, tả cảnh mà gợi được tâm trạng của Thúy Kiều.

Đoạn trích là bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, trong sáng. Đoạn thơ cho thấy tình yêu thiên nhiên tha thiết của nhà thơ với mùa xuân, tạo sức hấp dẫn trong lòng người đọc.

Bình giảng cảm nhận bài thơ Cảnh ngày xuân lớp 9 – Bài làm 3

Cuộc sống của chúng ta trở nên có ý nghĩa hơn bởi thiên nhiên tươi đẹp chính vì thế các mùa trong năm luôn là đè tài để các nhà thơ sang tác. Mùa thu nhiều biến đổi trong trang văn của Hữu Thỉnh hay mùa xuân rạo rực xuân sắc ngập tràn xuân tình của Xuân Diệu. Còn đại thi hào Nguyễn Du thì mùa xuân đó là mùa của đất trời, của con người. “Cảnh ngày xuân” được trích trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du là một bài thơ hay và đẹp. Bằng ngòi bút miêu tả giàu chất tạo hình nhà thơ đã vẽ nên bức tranh thiên nhiên mùa xuân tươi đẹp với các hoạt động của con người trong dịp lễ tết và cảnh chị em Thúy Kiều du xuân trở về.

Mùa xuân là mùa đẹp nhất trong năm, mùa của sự sinh sôi nảy nở, mùa của những cảm xúc. Mùa xuân ấy đã đươc tái hiện qua con mắt tài hoa tinh tế của Nguyễn Du vô cùng khác biệt:

“Ngày xuân con én đưa thoi

Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi

Cỏ non xanh tận chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.”

Ngòi bút miêu tả giàu chất tạo hình của nhà thơ đã hướng lên bầu trời cao rộng, trong xanh, rộng những đàn én chao liệng trên bầu trời nhanh như thoi đưa. Cánh én bay còn là tín hiệu của mùa xuân đang đến. Nghệ thuật ẩn dụ “con én đưa thoi” ngụ ý chỉ thời gian trôi qua nhanh như thoi đưa, cái thấm thoắt của thời gian trôi, cái nuối tiếc của con người cũng được gửi cả vào trong ấy. Nó khác hẳn cách viết “ Ngày xuân mơ nở trắng rừng” trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu sau này. Câu thơ tiếp theo là một cách tính thời gian cụ thể “ Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi. Ánh thiều quang trong trẻo và ấm áp làm bừng sáng cả không gian đất trời đem đến sức sống cho cỏ cây hoa lá nơ đây. Đặt trong cả câu thơ “ Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi” ngụ ý chỉ thời gian cả một mùa xuân đã trôi qua nhanh có ba tháng thì đã trôi qua hai tháng chỉ còn lại tháng cuối cùng gợi trong lòng người một nỗi buồn tiếc nuối vừa gợi cho người đọc cách tính thời gian đặc biệt của người xưa thật là thú vị, độc đáo.

Ánh thiều quang chiếu xuống mặt đất nơi có “Cỏ non xanh tận chân trời”. Cả một không gian rộng lớn bao la được bao phủ bởi màu xanh non của cỏ. Tính từ “non xanh” gợi vẻ đẹp mơn mởn, mỡ màng tràn đầy sức sống của hoa, cỏ mùa xuân. Trên nền tấm thảm ấy còn xuất hiện cành lê mới nở một vài bông hoa đầu mùa. Phép đảo ngữ “Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” từ “ trắng” tả màu sắc trắng trong tinh khiết của hoa lê đang phô diễn vẻ đẹp cùng với hương thơm ngào ngạt. Còn từ “điểm” đặt vào trong câu thơ như một điểm nhấn làm cho những bông hoa lê trở nên sinh động, có hồn. Sự xuất hiện của cành lê đánh dấu nét tinh tế trong ngòi bút thơ ca của Nguyễn Du. Sự kế thừa vẻ đẹp trong những câu thơ cổ và tài năng sáng tạo của Nguyễn Du. Bằng một vài nét chấm phá, Nguyễn Du đã phác họa nên một bức tranh xuân sinh động, tươi tắn và hấp dẫn lòng người.

Mùa xuân tiết trời trong trẻo, ấm áp là dịp để diễn ra các hoạt động đi viếng mộ và du xuân của con người:

“Thanh minh trong tiết tháng ba

Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh

Gần xa nô nức yến anh

Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân

Dập dìu tài tử giai nhân

Ngựa xe như nước, áo quần như nêm.”

Lễ là tảo mộ” – lễ thăm viếng, sửa sang, quét tước phần mộ người thân; đốt vàng vó, sắc tiền giá để tưởng nhớ những người đã khuất. “Hội là đạp thanh” – vui chơi chốn đồng quê, đạp lên những thảm cỏ xanh, là một cuộc sống hiện tại và có thể tìm đến những sợi ta hồng của mai sau. “Lễ” là hồi ức và tưởng niệm quá khứ theo truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “hội” là khát khao và hoài vọng nhìn về phía trước của cuộc đời. Lễ và hội trong tiết Thanh minh là một sự giao hoà độc đáo. Chứng tỏ nhà thơ rất yêu quý, trân trọng vẻ đẹp và giá trị truyền thống văn hoá dân tộc. Mùa xuân là mùa của lễ hội và cũng vì thế trong số những người đi du xuân có chị em Thúy Kiều. Nghệ thuật ẩn dụ “yến anh” chỉ đoàn người đi lễ hội với những bộ quần áo nhiều màu sắc giống như những đàn chim yến, chim anh xuất hiện trong mỗi dịp xuân về. Từ láy “ nô nức” vừa gợi tả cảnh đông đúc nhộn nhịp vừa diễn tả tâm trạng của lòng người vui vẻ hồ hởi trong chuyến vui xuân. Chị em Thúy Kiều cũng mặc những bộ quần áo đẹp nhất hòa vào dòng người đi chơi xuân. Sự có mặt của hai tuyệt thế giai nhân như làm cho lễ hội đẹp hơn thu hút nhiều ánh mắt nhìn cùng với sự trầm trồ khen gợi. Trong dòng người ấy có những “ tài tử giai nhân” tay trong tay vừa đi vừa trò chuyện vừa ngắm đất trời mùa xuân. Sự có mặt của họ làm cho lễ hội đông vui, nhộn nhịp, trẻ trung, nhiều sắc màu. Nghệ thuật so sánh kết hợp hoán dụ “Ngựa xe như nước, áo quần như nêm” diễn tả cảnh đông đúc nhộn nhịp của dòng người đi chảy hội. Những phương tiện ngựa xe đổ dồn về lễ hội nhiều như nước chảy. Còn trên các nẻo đường người người chen chúc chật như nêm. Có thể nói với giọng điệu trong sáng, tươi vui, từ ngữ tinh tế, hình ảnh đẹp yến anh đặc biệt là bút pháp miêu tả giàu chất tạo hình là Nguyễn du đã hắc họa lên cảnh lễ hội thật đông vui náo nhiệt. Từ đó mà thấy ông rất trân trọng những vẻ đẹp truyền thống của dân tộc.

Và khi ngày đã tàn, lễ hội đã tan thì chị em Thúy Kiều du xuân trở về:

“Tà tà bóng ngả về tây,

Chị em thơ thẩn dan tay ra về.

Bước dần theo ngọn tiểu khê,

Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.

Nao nao dòng nước uốn quanh,

Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.”

Lễ hội đông vui náo nhiệt đến mấy rồi cũng tắt. Nó kết thúc đúng vào thời điểm buổi chiều tàn. Cảnh vẫn mang cái thanh, cái dịu của mùa xuân: nắng nhạt, khe nước nhỏ, một nhịp cầu bắc ngang nhưng đã nhuốm màu tâm trạng. Bóng tịch dương đã chênh chếch xế chiều: “Tà tà bóng ngả về đây”, dòng nước uốn quanh. Nhưng đây không chỉ là hoàng hôn của cảnh vật mà dường như con người cũng chìm trong một cảm giác bâng khuâng khó tả. Cuộc du ngoạn xuân cảnh đã tàn, lễ hội tưng bừng, náo nhiệt đã chấm dứt, tâm hồn con người như cũng chuyển điệu cùng cảnh vật, bước chân người thơ thẩn. Cảnh như nhạt dần, lặng dần, mọi chuyển động đều nhẹ nhàng, không gian mang dáng dấp nhỏ nhoi, bé hẹp, phảng phất buồn. Tâm trạng con người có cái bâng khuâng xao xuyến về cuộc du xuân đã tàn, có cả linh cảm về việc gặp gỡ nấm mộ Đạm Tiên và chàng thư sinh Kim Trọng “phong tư tài mạo tót vời”. Nghệ thuật: sử dụng nhiều từ láy như nao nao, tà tà, thanh thanh không chỉ biểu đạt sức thái cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng con người, đặc biệt hai chữ “nao nao” thoáng gợi nên một nét buồn khó hiểu. Hai chữ “thơ thẩn” có sức gợi rất lớn, chị em Kiều ra về trong sự bần thần, nuối tiếc, lặng buồn. “Dan tay” tưởng là vui nhưng thực ra là chia sẻ cái buồn không nói hết. Cảm giá bâng khuâng xao xuyến về một ngày vui xuân đã hé mở một vẻ đẹp tâm hồn thiếu nữ tha thiết với niềm vui cuộc sống, nhạy cảm và sâu lắng. Chính các từ này đã nhuốm màu tâm trạng lên cảnh vật. Đoạn thơ còn hay bởi đã sử dụng bút pháp cổ điển: tả cảnh gắn với tả tình, tả cảnh ngụ tình, tình và cảnh tương hợp.

Cả bài thơ với sự tài hoa của Nguyễn Du, cách sử dụng thể thơ lục bát, giọng thơ nhẹ nhàng vui tươi, từ ngữ chọn lọc, hình ảnh quan thuộc gần gũi, và đặc biệt là bút pháp tả cảnh ngụ tình đã miêu tả chân thực bức tranh thiên nhiên mùa xuân tươi đẹp với các hoạt động của con người trong dịp lễ tết và cảnh chị em Thúy Kiều du xuân trở về mà lòng mang nhiều tâm trạng. Đó là nỗi tiếc nuối của hai chị em Thúy Kiều về chuyến du xuân. Qua đó mà ta còn thấy một Nguyễn Du yêu thiên nhiên, yêu những nét đẹp truyền thống của dân tộc và đồng cảm, sẻ chia với những nỗi lòng người trẻ.

Bài thơ đã khơi gợi trong lòng người đọc tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống và đặc biệt là yêu mùa xuân tươi đẹp. Hãy biết trân trọng những gì thiên nhiên đem đến cho chúng ta.

Bài văn mẫu Bình giảng cảm nhận bài thơ Cảnh ngày xuân

Bình giảng cảm nhận bài thơ Cảnh ngày xuân lớp 9 – Bài làm 4

Trang thơ của Nguyễn Du đang mở rộng trước mắt chúng ta. Có phải không, sau bức chân dung giai nhân là bức họa về cảnh sắc mùa xuân trong tiết Thanh minh và cảnh du xuân của trai tài gái sắc, của chị em Thúy Kiều? Đoạn thơ Cảnh ngày xuân gồm có 18 câu, từ câu 39 đến câu 56 của Truyện Kiều tiêu hiểu cho bút pháp nghệ thuật tả cảnh và tả tình của thi hào Nguyễn Du. Một vẻ đẹp thanh xuân, một niềm vui xôn xao, náo nức cứ dâng lên, cứ lan tỏa, rồi lắng dịu mãi trong lòng ta khi đọc đoạn thơ này.

Bốn câu thơ đầu, mở ra một không gian nghệ thuật hữu sắc, hữu hương, hữu tình, nên thơ. Giữa bầu trời bao la mênh mông là những cánh én bay qua hay lại như “đưa thoi”. Cánh én mùa xuân thân mật biết bao. Hai chữ ”đưa thoi” rất gợi hình, gợi cảm. Cánh én như con thoi vút qua, vút lại, chao liệng; thời gian đang trôi nhanh, mùa xuân đang trôi nhanh. Câu thành ngữ – tục ngữ: “Thời gian thấm thoắt thoi đưa, như ngựa chạy, như nước chảy qua cầu” đã nhập vào hồn thơ Tố Như tự bao giờ ?

Sau cánh én “đưa thoi” là ánh xuân, là “thiều quang” của mùa xuân khi “chín chục đã ngoài sáu mươi”. Cách tính thời gian và miêu tả vẻ đẹp mùa xuân của các thi sĩ xưa nay thật là hay và ý vị. Nào là “xuân hương lão” (Ức Trai), nào cảnh mưa bụi, tiếng chim kêu trong Đường thi. Nào là cánh bướm rối rít bay trong thơ Trần Nhân Tông. Còn là “xuân hồng” (Xuân Diệu), “mùa xuân chín” (Hàn Mặc Tử), v.v… Với Nguyễn Du là mùa xuân đã bước sang tháng ba, “Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi”. Hai chữ “thiều quang” gợi lên cái màu hồng của ánh xuân, cái ấm áp của khí xuân, cái mênh mông bao la của đất trời “Xuân xanh, xuân thủy tiếp xuân thiên” (Nguyên tiêu – Hồ Chí Minh).

Còn là sắc “xanh” mơn mởn, ngọi ngào của cỏ non trải dài, trải rộng như tấm thảm “tận chân trời”. Là sắc “trắng” tinh khôi, thanh khiết của hoa lê nở lác đác, chỉ mới hé lộ, khoe sắc khoe hướng “một vài bông hoa”:

Cỏ non xanh tận chân trời,

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

Vẫn cổ thi Trung Hoa được Tố Như vận dụng một cách sáng tạo: “Phương thảo liên thiên bích – Lê chi sổ điểm hoa”. Hai chữ “trắng điểm” là nhãn tự, cách chấm phá điểm xuyết của thi pháp cổ gợi lên vẻ đẹp thanh xuân trinh trắng của thiên nhiên cỏ hoa; bút pháp nghệ thuật phối sắc tài tình: trên cái nền xanh của cỏ non là một vài bông lê “trắng điểm”. Giữa diện và điểm, giữa nền xanh và sắc trắng của cảnh vật mùa xuân là những cánh én ”đưa thoi”, là màu hồng của ánh thiều quang, là “khát vọng mùa xuân” ngây ngất, say đắm lòng người:

Nhìn hoa đang hé tưng bừng,

Khao khát mùa xuân yên vui lại đến.

(Ca khúc khát vọng mùa xuân – Mô-da)

Cảnh mùa xuân là bức tranh xuân hoa lệ, là vần thơ tuyệt bút của Nguyễn Du để lại cho đời, điểm tô cho cuộc sống mỗi chúng ta. Phải chăng, thi sĩ Chế Lan Viên đã học tập Tố Như để viết nên vần thơ xuân đẹp này:

Tháng giêng hai xanh mướt cỏ đồi,

Tháng giêng hai vút trời bay cánh én…

 (Ý nghĩa mùa xuân)

Tám câu thơ tiếp theo tả cảnh trẩy hội mùa xuân: “Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh” trong tiết tháng ba. Điệp ngữ: “lễ là… hội là…” gợi lên những cảnh lễ hội dân gian cứ liên tiếp diễn ra đã bao đời nay: “Tháng giêng là tháng ăn chơi – Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè”… (Ca dao). Cảnh trẩy hội đông vui, tưng bừng, náo nhiệt. Trên các nẻo đường “gần xa” những dòng người cuồn cuộn trẩy hội. Có biết bao “yến anh” trẩy hội trong niềm vui “nô nức”, hồ hởi, giục giã. Có biết bao tài tử, giai nhân “dập dìu” vai sánh vai, chân nối chân nhịp bước. Dòng người trẩy hội tấp nập ngựa xe cuồn cuộn “như nước”, áo quần đẹp đẽ, tươi thắm sắc màu, nghìn nghịt, đông vui trên các nẻo đường “như nêm”. Các từ ngữ: “nô nức”, “dập dìu”, các ẩn dụ so sánh (như nước, như nêm) đã gợi tả lễ hội mùa xuân tưng bừng náo nhiệt đang diễn ra khắp mọi miền quê đất nước. Trẻ trung và xinh đẹp, sang trọng và phong lưu:

Dập dìu tài tử giai nhân,

Ngựa xe như nước, áo quần như nêm.

Trong đám tài tử, giai nhân “gần xa” ấy, có 3 chị em Kiều. Câu thơ “Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân” mới đọc qua tưởng như chỉ là một thông báo. Nhưng sâu xa hơn, nó ẩn chứa bao nỗi niềm: chờ trông mong đợi, ngày lễ tảo mộ, ngày hội đạp thanh đến để du xuân trong những bộ quần áo đẹp đã chuẩn bị, đã “sắm sửa”… Có biết bao “bóng hồng” xuất hiện trong đám tài tử, giai nhân ấy? Ai đã từng đi hội chùa Hương, hội Lim, hội Yên Tử  mới cảm thấy cái đẹp, cái vui, cái tưng bừng, tươi trẻ trong hội đạp thanh mà Nguyễn Du đã nói đến.

Thơ là nghệ thuật của ngôn từ. Các từ ghép: “yến/anh”, “chị/em”, “tài / tử”, “giai / nhân”, “ngựa / xe”, “áo /quần” (danh từ); “gần xa” , “nô / nức”, “sắm /sửa”, “dập / dìu” (tính từ, động từ) được thi hào sử dụng chọn lọc tinh tế, làm sống lại cái không khí lễ hội mùa xuân, một nét đẹp của nền văn hóa lâu đời của phương Đông, của Trung Hoa, của Việt Nam chúng ta, và nếp sống “phong lưu” của chị em Kiều.

Ngổn ngang /gò đống kéo lên,

Thoi vàng vó rắc/tro tiền giấy bay.

Đời sống tâm linh, phong tục dân gian cổ truyền trong lễ tảo mộ được Nguyễn Du nói đến với nhiều cảm thông, san sẻ. Cõi âm và cõi dương, người đang sống và kẻ đã chết, hiện tại và quá khứ đồng hiện trên những gò đống “ngổn ngang” trong lễ tảo mộ. Cái tâm thánh thiện, niềm tin phác thực dân gian đầy ắp nghĩa tình. Các tài tử, giai nhân, và 3 chị em Kiều không chỉ nguyện cầu cho những vong linh mà còn gửi gắm bao niềm tin, bao ao ước về tương lai hạnh phúc cho tuổi xuân khi mùa xuân về. Có thể sau hai trăm năm, ý nghĩ của mỗi chúng ta có ít nhiều đổi thay trước cảnh “Thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay”, nhưng giá trị nhân bản của vần thơ Nguyễn Du vẫn làm ta xúc động!

Sáu câu thơ cuối đoạn ghi lại cảnh chị em Kiều đi tảo mộ đang dần bước trở về nhà. Mặt trời đã “tà tà” gác núi. Ngày hội, ngày vui đã trôi qua nhanh:

Tà tà, bóng ngả về tây,

Chị em thơ thẩn dan tay ra về.

Hội tan sao chẳng buồn? Ngày tàn sao chẳng buồn? Nhịp thơ chậm rãi. Nhịp sống như ngừng trôi. Tâm tình thì “thơ thẩn”, cử chỉ thì “dan tay”, nhịp chân thì “bước dần”. Một cái nhìn man mác, bâng khuâng: “lần xem”… đối với mọi cảnh vật. Tất cả đều nhỏ bé. Khe suối chỉ là “ngọn tiểu khê”. Phong cảnh “thanh thanh”. Dòng nước thì “nao nao” uốn quanh. Dịp cầu thì “nho nhỏ” bắc ngang ở cuối ghềnh. Cả một không gian êm đềm, vắng lặng. Tâm tình của chị em Kiều như dịu lại trong bóng tà dương. Như đang đợi chờ một cái gì sẽ đến, sẽ nhìn thấy? Cặp mắt cứ “lần xem” gần xa:

Bước dần theo ngọn tiểu khê,

Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.

Các từ láy tượng hình: “thanh thanh”, “nao nao”, “nho nhỏ” gợi lên sự nhạt nhòa của cảnh vật và sự rung động của tâm hồn giai nhân khi hội tan, ngày tàn. Nỗi niềm man mác bâng khuâng thấm sâu, lan tỏa trong tâm hồn của giai nhân đa tình, đa cảm.

Cảnh vật và thời gian được miêu tả bằng bút pháp ước lệ tượng trưng nhưng rất sống động, gần gũi, thân quen đối với bất cứ người Việt Nam nào. Không còn xa lạ nữa, vì ngọn tiểu khê ấy, dịp cầu nho nhỏ ấy là màu sắc đồng quê, là cảnh quê hương đất nước mình. Tính dân tộc là một nét đẹp đậm đà trong thơ Nguyễn Du, nhất là những vần thơ tả cảnh ngụ tình tuyệt tác.

Thi sĩ Xuân Diệu từng viết: “Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi”. Trong Thương nhớ mười hai Vũ Bằng không nén nổi cảm xúc của mình mà phải thốt lên: “Mùa xuân của tôi… Cái mùa xuân thần thánh của tôi… Đẹp quá đi, mùa xuân ơi – mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thương mến”. Và chúng ta muốn nói thêm: Đẹp quá đi mùa xuân của đất nước thân yêu! Vui quá đi, trẻ đẹp quá đi cảnh mùa xuân, cảnh trẩy hội xuân trong Truyện Kiều. Mùa xuân đem đến cho ta bao ước vọng, sắc xuân, tình xuân như nở hoa, ướp hương trong lòng ta.

Hỡi những nàng Kiều gần xa có nghe thấy tiếng nhạc vàng của chàng Kim Trọng trong ngày xuân đẹp từ xa đang vọng tới?

Những bài văn mẫu Bình giảng cảm nhận bài thơ Cảnh ngày xuân

Bình giảng cảm nhận bài thơ Cảnh ngày xuân lớp 9 – Bài làm 5

Đã có biết bao nhiêu bậc thi sĩ tài hoa như Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Công Trứ, Tản Đà hay Tố Hữu bày tỏ cảm xúc suy nghĩ của mình về Truyện Kiều của Nguyễn Du. Song hầu hết những suy nghĩ của họ đều nghiêng về giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong Truyện Kiều . Giá trị của Truyện Kiều cũng như những đóng góp lớn lao của Đại thi hào Nguyễn DU cho văn học nước nhà không chỉ dừng lại ở đó. Nghệ thuật độc đáo của Truyện Kiều mà ưu thế là nghệ thuật miêu tả nhân vật; nghệ thuật miêu tả thiên nhiên đã trở thành lý do khiến cho Truyện Kiều trở thành kiệt tác, hấp dẫn hàng triệu trái tim người đọc trong và ngoài nước, đoạn trích Cảnh ngày xuân là một dẫn chững tiêu biểu.

Như chúng ta đã biết Truyện Kiều thuộc dòng văn học trung đại Việt Nam, lúc bấy giờ trong văn học người ta thường hay sử dụng nghệ thuật miêu tả ước lệ. Khi miêu tả Cảnh ngày xuân Nguyễn Du cũng đã sử dụng triệt để thi pháp này, cảnh mùa xuân hiện lên chủ yếu bằng cách gợi chư không tả nhiều. Có thể nói đây là đoạn thơ đặc sắc nhất thể hiện giá trị nghệ thuật miêu tả thiên nhiên của Nguyễn Du.

Đoạn thơ tả cảnh ngày xuân trong tiết Thanh Minh (đầu tháng ba), chị em Thúy Kiều đi chơi xuân. Đây là đoạn thơ nằm liền ngay sau đoạn mở đầu giới thiệu gia cảnh họ Vương và tả vẻ đẹp của chị em Thúy Kiều. Đoạn gồm mười tám câu thơ được kết cấu theo đúng trình tự thời gian của cuộc du xuân.

Ngày xuân con én đưa thoi,

Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.

Cỏ non xanh tận chân trời,

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

Nguyễn Du là một đại thi hào luôn có khả năng nắm bắt được cái hồn của cảnh vật để rồi sau đó chỉ bằng vài chi tiết đã làm cảnh vật được chạm khắc nổi bật với đúng cái “thần”, cái “hồn” của nó. Chẳng hạn cảnh mùa thu được ông miêu tả:

Long lanh đáy nước in trời,

Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng.

Trong đoạn thơ này với bốn câu thơ gợi tả khung cảnh ngày xuân Nguyễn Du đã chạm khắc bức tranh toàn cảnh bằng không gian, thời gian và một vài hình ảnh đặc trưng: đó là một không gian rộng lớn, thời gian trôi nhanh với hình ảnh chim én, cỏ xanh , hoa lê….Ngay từ câu thơ mở đầu “Ngày xuân con én đưa thoi” nghệ thuật miêu tả ước lệ đã được bộc lộ khá rõ. Trong một câu thơ tác giả vừa tái hiện hình ảnh báo hiệu mùa xuân “chim én” vừa nói về thời gian thấm thoát trôi nhanh như thoi dệt cửi, câu thơ còn như ngụ cả ý tiếc ngày xuân đi quá nhanh nữa thì phải. Như vậy cái ước lệ đâu chỉ có ở hình ảnh chim én nói về mùa xuân mà còn có cả cái thấm thoắt thoi đưa để chỉ sự biến chuyển mau lẹ của thời gian nữa, cái tiếc nuối của con người cũng được gửi cả vào trong ấy. Nó khác hẳn cách viết “Ngày xuân mơ nở trắng rừng” trong bài Việt Bắc của Tố Hữu sau này. Câu thơ tiếp theo là một cách tính thời gian cụ thể “ Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi”, có chín chục ngày xuân mà đã đi qua hơn sáu mươi ngày.

Cỏ non xanh tận chân trời,

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

Một câu thơ tuyệt hay và tuyệt đẹp. Trong đó tác giả đã sử dụng thủ pháp nghệ thuật miêu tả toàn cảnh và cận cảnh, thi pháp đối lập màu sắc làm chủ đạo. Trước hết là bức tranh không gian rộng lớn như mở ra đến vô cùng vô tận.

Cỏ non xanh tận chân trời,

Quả là một hình ảnh đầy sức sống có sức gợi tả đặc biệt . Câu thơ này có bản viết là “ Cỏ non xanh rợn chân trời”. Nếu chữ “tận” gợi về cái không gian chạy đến tít tắp cuối chân trời thì chữ “rợn” lại thiên về cảm giác rợn ngợp trước sức xanh của cỏ. Dù là chữ nào thì câu thơ vẫn là cái phông, cái nền cho câu thơ tiếp theo xuất chuẩn với chữ “xanh” trong câu trên. Một vài bông hoa lê trở thành thứ trang sức quý giá để tô điểm cho vẻ đẹp của mùa xuân. Chữ “điểm” làm cho mùa xuân càng như có tâm hồn.

Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Du chọn cảnh ngày xuân để nói về quãng thời gian êm đềm, ngắn ngủi của cuộc đời Thúy Kiều. Bởi trong bốn mùa xuân, hạ, thu ,đông thì mùa xuân vẫn là mùa có sức quyến rũ lòng người nhất. Mùa xuân là mùa bắt đầu của một năm, là mùa cây cối đâm chồi nảy lộc, tiết trời trong trẻo, mát mẻ…đó còn là mùa diễn ra nhiều lễ hội nhất trong năm.

Tám câu thơ tiếp theo gợi tả khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh. Hai câu đầu nhà thơ nói về Lễ hội Thanh minh diễn ra vào tháng ba, tác giả đã triết tự từ “Lễ hội” thật tài tình:

Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh.

Như vậy có hai hoạt động diễn ra cùng một lúc: đi viếng mộ và đi chơi xuân ở chốn đồng quê.

Gần xa nô nức yến anh,

Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.

Dập dìu tài tử giai nhân,

Ngựa xe như nước áo quần như nêm.

Nghệ thuật miêu tả ước lệ lại một lần nữa thể hiện rõ nét trong đoạn thơ này. Không khí ngày lễ hội được ví với hàng loạt hình ảnh tượng trưng như: chim yến, chim hoàng anh, như nước như nêm (chật cứng như nêm). Để tái hiện được không khí náo nức của lễ hội. Nguyễn Du đã sử dụng một loạt từ ghép là tính từ, danh từ, động từ xuất hiện với tần số dày đặc. Các danh từ ghép ( yến anh,chị em, tài tử,giai nhân…) gợi tả sự đông vui, nhiều người cùng đến lễ hội; các động từ ghép ( sắm sửa, dập dìu…)gợi tả sự rộn ràng, náo nhiệt; các tính từ ghép (gần xa,nô nức…) diễn tả tâm trạng háo hức của người đi chơi lễ hội. Hình ảnh ẩn dụ “gần xa nô nức yến anh” gợi lên cảnh từng đoàn người nhộn nhịp đi chơi xuân như chim én, chim hoàng anh đang ríu rít…Từ láy “dập dìu” thật gợi hình, gợi cảm , vừa tả được cảnh từng đôi lứa “tài tử – giai nhân” đang du xuân vừa diễn tả được cái nhịp điệu trữ tình thơ mộng trong từng bước chân, từng đoàn xe đang đi trên đường . Không chỉ có vậy, Nguyễn Du còn miêu tả một phong tục trong ngày tết Thanh minh đó là rắc thoi vàng vó, đốt tiền giấy hàng mã để tưởng nhớ những người đã khuất.

Tà tà bóng ngả về tây,

Chị em thơ thẩn dan tay ra về.

Bước dần theo ngọn tiểu khê,

Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.

Nao nao dòng nước uốn quanh,

Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.

Khung cảnh chị em Kiều du xuân trở về được bắt đầu bằng một câu thơ tả sự chuyển đổi của thời gian “Tà tà bóng ngả về tây”. Buổi chiều tà thường gợi về cái gì đó thật buồn, bởi nó báo hiệu một ngày đã tàn. Đang vui vẻ, nô nức là thế, bây giờ đã kết thúc sao tránh khỏi tâm trạng “ thơ thẩn” đầy tiếc nuối. Vẫn biết vậy sao ta cứ ám ảnh mãi bởi hình ảnh ba chị em Kiều đang thơ thẩn ra về. Cảnh mùa xuân ở những câu cuối được cảm nhận qua tâm trạng,những từ láy “tà tà”, “thanh thanh”, “nao nao” không chỉ diễn tả sắc thái cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng con người. Đặc biệt câu thơ “nao nao dòng nước uốn quanh” như nhuốm màu tâm trạng. Nó vừa như vẫn còn đọng cái cảm giác bâng khuâng xao xuyến từ dư âm ngày vui xuân vừa như đã dự báo, linh cảm về những tháng ngày không còn hồn nhiên vô tư nữa của Thúy Kiều vì ngay sau đoạn này là đoạn Kiều gặp nấm mồ Đạm Tiên.

Đoạn thơ “Cảnh ngày xuân” quả thực là một bức tranh mùa xuân thật đẹp, thật sống động nhưng cũng đầy tâm trạng. Có lẽ nếu trên đất nước này vẫn còn những tâm hồn biết rung động trước cái đẹp thì “Cảnh ngày xuân” trong Truyện Kiều của Nguyễn Du vẫn là một niềm rung động lớn.

Thông qua những bài văn mẫu Bình giảng cảm nhận bài thơ Cảnh ngày xuân lớp 9 trên đây, hẳn các em đã nắm được cách làm bài văn này như thế nào. Đồng thời các em cũng đã hiểu hơn về đoạn trích. Chúc các em làm bài thật tốt và đạt điểm số thật cao.

Thu Thủy