Home / Giáo dục / Văn mẫu / Top 4 bài văn mẫu Phân tích tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du qua đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán lớp 9 chọn lọc

Top 4 bài văn mẫu Phân tích tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du qua đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán lớp 9 chọn lọc

Hướng dẫn làm bài văn mẫu Phân tích tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du qua đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán lớp 9 hay nhất.

Các tác phẩm văn học của Việt Nam trước đây luôn đề cao giá trị nhân đạo. Đó là cách mà các tác giả bày tỏ tấm lòng của mình đối với những số phận hẩm hiu trong cuộc sống. Nhà thơ Nguyễn Du, một đại thi hào của dân tộc nổi tiếng là người có tấm lòng nhân đạo to lớn. Tấm lòng của ông được thể hiện một cách rõ nét thông qua các vần thơ mà chúng ta có thể thấy rõ nhất thông qua tác phẩm Truyện Kiều. Hãy cùng chúng tôi tham khảo bài văn mẫu Phân tích tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du qua đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán lớp 9 hay nhất dưới đây để thấy rõ điều này.

Phân tích tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du qua đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán – Bài làm 1

Nhắc đến Nguyễn Du là ta nhớ hay đến một đại thi hào dân tộc với tác phẩm Truyện Kiều nổi tiếng. Đây cũng chính là tác phẩm đã đưa tên tuổi của Nguyễn Du đến gần hơn với người đọc và đến bây giờ sau hàng trăm năm tên của ông vẫn còn được nhắc đến. Tác phẩm Truyện Kiều mặc dù lấy cốt truyện của một tác phẩm bên Trung Quốc nhưng Nguyễn Du đã rất sáng tạo từ cách thể hiện cho đến cách dùng từ. Thể thơ lục bát truyền thống được tác giả vận dụng một cách tài tình. Nhắc đến Truyện Kiều ta sẽ có rất nhiều điều để nói nhưng có một điều chắc chắn không thể bỏ qua đó chính là tấm lòng nhân đạo của tác giả. Điều này chúng ta có thể thấy rõ nhất thông qua đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán.

Lòng nhân đạo chính là một biểu hiện của tình yêu thương con người. Trong văn học, tấm lòng văn học được biểu hiện thông qua sự trân trọng vẻ đẹp con người của tác giả, là sự xót thương của tác giả đối với những số phận bất hạnh, bị đọa đày trong cuộc sống. Tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du trong đoạn trích này thể hiện ở chỗ Thúy Kiều báo ân, báo oán. Lúc này, Thúy Kiều đã trải qua nhiều kiếp nạn. Đã có lúc nàng nghĩ tới cái chết nhưng may mắn được cứu thoát. Giờ là lúc nàng báo ơn những người đã từng giúp đỡ mình. Người giúp nàng đền ơn trả oán chính là Từ Hải- người anh hùng áo vải đầu đội trời, chân đạp đất, người đã cứu Thúy Kiều ra khỏi lầu xanh. Để cho Thúy Kiều được báo ân báo oán là cách mà Nguyễn Du thể hiện tấm lòng nhân đạo của mình. Đó là ước mơ về công lý, người ở hiền thì sẽ gặp lành, người ở ác thì sẽ gặp ác.

Tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du trước hết được thể hiện thông qua cảnh Kiều đền ơn Thúc Sinh. Thúc Sinh là người đầu tiên cứu Thúy Kiều ra khỏi lầu xanh và cho nàng một cuộc sống gia đình dẫu cho gia đình ấy không trọn vẹn. Bây giờ Kiều báo ân Thúc Sinh, xuất phát từ một tấm lòng tri ân:

Nàng rằng: Nghĩa nặng nghìn non

Lâm Tri người cũ chàng còn nhớ không?

Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng

Tại ai há dám phụ lòng cố nhân?

Khi bước vào lầu xanh, cuộc sống của Kiều coi như đã đặt dấu chấm hết. Nhưng chính Thúc Sinh đã cứu nàng ra khỏi cảnh đời ô nhục ấy. Dù gì Thúy Kiều cũng có những ngày tháng êm đẹp sau khi được Thúc Sinh cứu ra. Nhưng cũng chính vì gắn bó với Thúc Sinh mà cuộc đời Kiều thêm một lần đau khổ. Kiều cũng nhận định rõ người làm nàng đau khổ là Hoạn Thư chứ không phải Thúc Sinh. Vậy nên giờ đây dù có “gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân” nàng cũng thấy mình chưa xứng với ơn nghĩa của Thúc Sinh. Cách dùng từ Hán Việt của Kiều khi nói với Thúc Sinh cũng thể hiện sử trân trọng của Kiều dành cho Thúc Sinh.

Nhắc đến Hoạn Thư, Kiều nói:

Vợ chàng quỷ quái tinh ma

Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau

Kiến bò miệng chén chưa lâu

Mưu sâu cũng trả, nghĩa sâu cho vừa

Chính vì Hoạn Thư nên Kiều không thể vẹn được chữ tòng với Thúc Sinh. Cũng chính Hoạn Thư đã đày đọa nàng, khiến cho nàng phải rơi vào cảnh xót xa, hờn tủi. Giờ đây, Kiều phải trả lại nỗi oán hận này với Hoạn Thư. Cảnh Kiều báo oán Hoạn Thư diễn ra như một lẽ tự nhiên bởi đây là cách mà Nguyễn Du giúp Thúy Kiều đòi lại công lý cho mình. Giọng điệu của Thúy Kiều lập tức thay đổi khi nhìn thấy Hoạn Thư:

Thoắt trông nàng đã chào thưa:

Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!

Thái độ của Kiều thể hiện rõ sự miệt thị đối với Hoạn Thư, đó cũng là cách đáp trả lại Hoạn Thư bởi khi Thúy Kiều còn làm hoa nô cho nhà họ Hoạn, Hoạn Thư cũng xưng hô với nàng như vậy. Thúy Kiều đay nghiến:

Đàn bà dễ có mấy tay

Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan!

Dễ dàng là thói hồng nhan

Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều

Thúy Kiều đã quyết trừng trị Hoạn Thư. Hoạn Thư cay nghiệt bao nhiêu thì bây giờ sẽ nhận bấy nhiêu sự trừng trị. Hoạn Thư nghe Thúy Kiều nói vậy thì hồn xiêu phách lạc nhưng vẫn biện minh cho mình. Đầu tiên, Hoạn Thư dựa vào tâm lý hay ghen của người phụ nữ, người vợ:

Rằng Tôi chút phận đàn bà

Ghen tuông thì cũng người ta thường tình

Sau đó, Hoạn Thư lại kể công ơn của mình đối với Kiều:

Nghĩ cho khi gác viết kinh

Với khi khởi cửa dứt tình chẳng theo

Hoạn Thư mong Kiều nghĩ đến lúc Hoạn Thư cho Kiều viết kinh ở Gác Quan Âm. Rồi khi Kiều trốn đi, Hoạn Thư cũng không cho người đuổi theo. Sau đó, Hoạn Thư cũng không quên bày tỏ sự ngưỡng mộ của mình dành cho Thúy Kiều:

Lòng riêng riêng những kính yêu

Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai

Trót lòng gây việc chông gai

Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng

Phụ nữ là vậy, thật khó để chấp nhận cạnh chung chồng. Hoạn Thư đã nhận tất cả tội lỗi về mình và mong Thúy Kiều sẽ bao dung, độ lượng. Trước những lời lẽ có lý có tình của Hoạn Thư, Kiều dù lúc đầu quyết tâm báo oán cũng đã rộng lòng tha thứ:

Khen cho thực đã nên rằng

Khôn ngoan rất mực nói năng phải lời

Tha ra thì cũng may đời

Làm ra mang tiếng là người nhỏ nhen

Đã lòng tri quá thì nên

Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay

Thúy Kiều chấp nhận tha thứ cho Hoạn Thư cũng là lẽ thường tình bởi vì Hoạn Thư đã biết sai lầm của mình. Người ta vẫn nói đánh kẻ chạy đi chứ không ai đánh người chạy lại.

Thông qua hai nhân vật Thúy Kiều và Hoạn Thư, Nguyễn Du đã cho thấy tài năng trong việc xây dựng ngôn ngữ đối thoại. Nếu như trong câu chuyện gốc của Trung Quốc Thúy Kiều không tha thứ cho Hoạn Thư thì ở đây Nguyễn Du đã có sự sáng tạo. Điều này càng làm tăng thêm đức tính cao thượng, bao dung của Thúy Kiều. Sự thay đổi của Nguyễn Du đã làm tăng thêm giá trị cho tác phẩm, tăng thêm giá trị cho nhân vật Thúy Kiều và đồng thời thể hiện được tài năng của Nguyễn Du.

Bằng cách thể hiện tấm lòng nhân đạo của mình, Nguyễn Du đã thể hiện rõ ước mơ về công lí, về sự công bằng cho con người. Thông qua đây, tác giả cũng cho người đọc thấy một bài học về cách ứng xử của con người.

phan tich tam long nhan dao cua nguyen du qua doan trich thuy kieu bao an bao oan 2 - Top 4 bài văn mẫu Phân tích tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du qua đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán lớp 9 chọn lọc

Bài văn hay phân tích tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du qua đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán

Phân tích tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du qua đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán – Bài làm 2

Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, là một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn. “Truyện Kiều” là tác phẩm làm nên tên tuổi của ông, kể về cuộc đời và số phận lênh đênh mười lăm năm lưu lạc của người con gái tài hoa bạc mệnh Thúy Kiều. “Thúy Kiều báo ân báo oán” là một đoạn trích tiêu biểu đã thể hiện được tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du qua việc Kiều báo ân báo oán.

Tấm lòng nhân đạo là tình yêu thương con người. Tấm lòng nhân đạo trong văm học là sự ngợi ca, trân trọng vẻ đẹp con người, là tấm lòng thương cảm, xót xa trước số phận con người bị đày đọa. “Thúy Kiều báo ân báo oán” là đoạn trích thể hiện tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du qua việc Thúy Kiều trả ơn và báo oán. Đoạn trích nằm ở phần hai “Gia biến và lưu lạc”. Trải qua biết bao nạn nọ nạn kia, tưởng rằng phải buông xuôi trước số phận, chính lúc Kiều vô vọng thì Từ Hải xuất hiện – người anh hùng áo vải đội trời đạp đất đã cứu Kiều khỏi lầu xanh và giúp nàng đền ơn trả oán. Đoạn trích “Thúy Kiều báo ân báo oán” miêu tả cảnh Kiều đền ơn những người đã cưu mang giúp đỡ nàng và trừng trị những kẻ đã hại nàng. Đoạn trích thể hiện rõ tấm lòng nhân đạo chủ nghĩa lớn của Nguyễn Du, là sự thể hiện ước mơ công lí theo quan niệm của quần chúng nhân dân: con người bị áp bức đau khổ vùng lên tìm công lí, “ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác”.

Xem thêm:  Top 10 bài văn mẫu Phân tích đoạn trích Những đứa trẻ của Mac-xim Go-ro-ki lớp 9 chọn lọc

Trước hết đoạn trích tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du được thể hiện qua cảnh Kiều đền ơn với Thúc Sinh. Trong những người có ơn, Thúc Sinh là người Kiều nhớ tới đầu tiên bởi chàng Thúc là người cứu Kiều ra khỏi lầu xanh, cho nàng cuộc sống gia đình. Thúc Sinh được mời tới nơi Kiều xử án trong cảnh “gươm lớn giáo dài”, khiến chàng thư sinh họ Thúc “Mặt như chàm đổ mình dường dẽ run”. Hình ảnh ấy gợi trắc ẩn trong lòng Kiều. Những lời nói của nàng với Thúc Sinh xuất phát từ một tấm lòng tri ân, từ tấm lòng trả ơn chân thật:

 “Nàng rằng: Nghĩa nặng nghìn non

Lâm Tri người cũ chàng còn nhớ không?

Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng.

Tại ai há dám phụ lòng cố nhân?”

Ta có thể thấy nàng rất trọng tấm lòng và sự giúp đỡ mà Thúc Sinh đã dành cho mình:Thúc Sinh đưa Kiều ra khỏi lầu xanh, cứu nàng thoát khỏi cảnh đời ô nhục. Cùng với chàng Thúc Sinh, Kiều có những ngày tháng êm ấm trong hạnh phúc gia đình, nàng gọi đó là “nghĩa nặng tình non”. Vì gắn bó với Thúc Sinh mà đời Kiều thêm một lần khổ, là một kẻ tôi đòi. Tuy nhiên, Kiều hiểu nỗi đau của nàng không phải do Thúc Sinh gây ra mà thủ phạm là Hoạn Thư. Với Kiều thì dù có “gấm trăn cuốn, bạc nghìn cân” cũng chưa xứng với ơn nghĩa của Thúc Sinh. Tấm lòng “nghĩa nặng tình non” thì gấm vóc bạc vàng nào có thể cân đo cho được? Khi nói với Thúc Sinh, Kiều dùng những từ Hán Việt như “nghĩa, tòng, cố nhân, tạ”, điển cố “Sâm Thương” – cách nói sang trọng này phù hợp với chàng họ Thúc đồng thời diễn tả được tấm lòng biết ơn trân trọng của Kiều.

Trong khi nói với Thúc Sinh, Kiều đã nhắc tới Hoạn Thư:

“Vợ chàng quỷ quái tinh ma,

Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau.

 Kiến bò miệng chén chưa lâu,

Mưu sâu cũng trả, nghĩa sâu cho vừa”

Như vậyvới Kiều Hoạn Thư là người khiến nàng không thể vẹn chữ tòng với chàng Thúc, là người đã đày đọa nàng, đã đẩy nàng vào sự đau khổ, xót xa, hờn tủi. Nỗi đau oán hận ấy, Kiều quyết phải trả oán cho bằng được. Điều đó phù hợp với quan niệm có áp bức thì có đấu tranh đòi công lí của nhân dân ta.

Tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du còn được thể hiện trong cảnh báo oán của Kiều với Hoạn Thư, thể hiện quan niệm “ở ác gặp ác”. Vừa trông thấy Hoạn Thư, Kiều đã thay đổi giọng điệu:

“Thoắt trông nàng đã chào thưa:

Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!”

Hành động và lời nói của Kiều biểu thị thái độ miệt thị với Hoạn Thư. Nàng đã dùng cách xưng hô của Hoạn Thư trước đây khi Kiều còn làm hoa nô cho nhà họ Hoạn. Trong lời nói của Kiều còn có cả sự đay nghiến. Những câu thơ như dằn ra từng tiếng:

“Đàn bà dễ có mấy tay

Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan!

Dễ dàng là thói hồng nhan

 Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều.”

Thái độ ấy cho thấu nàng quyết trừng trị Hoạn Thư theo đúng qui luật “càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều”.

Trước lời nói, thái độ của Kiều, phút giây đầu, Hoạn Thư có “hồn lạc phách xiêu” nhưng ngay cả trong hoàn cảnh ấy, Hoạn Thư vẫn kịp nhiễu điều kêu ca để biện bạch cho mình. Trước hết, Hoạn Thư dựa vào tâm lý thường tình của người phụ nữ thường hay ghen:

“Rằng: Tôi chút phận đàn bà

Ghen tuông thì cũng người ta thường tình” Tiếp đến Hoạn Thư kể lại công ơn cho Kiều:

“Nghĩ cho khi gác viết kinh

Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo”

Hoạn Thư đã cho Kiều viết kinh ở Gác Quan Âm và khi Kiều trốn khỏi nhà Hoạn Thư, Hoạn Thư cũng không cho người đuổi theo sau nữa. Hoạn Thư nói về tình cảm riêng tư thì rất ngưỡng mộ tài năng, đức hạnh của Kiều:

“Lòng riêng riêng những kính yêu

Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai

 Trót lòng gây việc chông gai

Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng?”

Dù ngưỡng mộ đến đâu, yêu kính thế nào thì Hoạn Thư cũng không nhường Thúc Sinh cho nàng. Cuối cùng, Hoạn Thư nhận tất cả tội lỗi về mình và nói rằng cười là người bao dung độ lượng tha cho họ thương hay không là tùy thuộc vào tấm lòng đó.

Quyết tâm báo oán, nhưng trước những lời biện bạch “chí tình chí lí” của Hoạn Thư, cuối cùng Kiều quyết định tha cho Hoạn Thư:

“Khen cho thực đã nên rằng

Khôn ngoan rất mực nói năng phải lời

Tha ra thì cũng may đời,

Làm ra mang tiếng là người nhỏ nhen

 Đã lòng tri quá thì nên:

Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay”

Hành động tha Hoạn Thư của Thúy Kiều là cách ứng xử phù hợp với quy luật cuộc sống, rất con người, rất trần thế: “Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại”.

Nguyễn Du đã thể nghệ thuật xây dựng ngôn ngữ đối thoại đặc sắc qua hai nhân vật Thúy Kiều và Hoạn Thư. Đoạn trích có sự thay đổi tình tiết so với “Kim Vân Kiều truyện ” đó là hành động tha cho Hoạn Thư của Thúy Kiều càng làm nổi bật hình ảnh Kiều rất trung hậu, cao thượng, bao dung. Thay đổi để tái sinh một cuộc sống mới, một con người mới, ở một tầm cao mới, đó không chỉ là tài năng, tâm sức mà còn là bản lĩnh và cái tầm của một thiên tài Nguyễn Du.

Đoạn trích “Thúy Kiều báo ân báo oán” đã thể hiện rõ tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du đó là ước mơ công lí, về hạnh phúc con người. Đoạn thơ mang lại cho mỗi người bài học về sự ứng xử sâu sắc giữa người với người.

phan tich tam long nhan dao cua nguyen du qua doan trich thuy kieu bao an bao oan 1 - Top 4 bài văn mẫu Phân tích tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du qua đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán lớp 9 chọn lọc

Bài văn mẫu phân tích tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du qua đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán

Phân tích tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du qua đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán – Bài làm 3

Nguyễn Du là đại thi hào của dân tộc ta trong thế kỉ XIX. “Truyện Kiều” của ông là đỉnh cao chói lọi và là niềm tự hào lớn của nền văn học cổ điển Việt Nam. Trải qua một cuộc bể dâu / Những điều trông thấy mà đau đớn lòng. Áng thơ tự sự – trữ tình này không chỉ lên án những thế lực đen tối, tàn bạo trong xã hội mà còn thể hiện tinh thần nhân đạo sâu sắc của Nguyễn Du. Đoạn trích “Thúy Kiều báo ân báo oán” là một trong những đoạn trích tiêu biểu thể hiện rất rõ cảm hứng nhân đạo của đại thi hào.

Tinh thần nhân đạo trong văn học Việt Nam được biểu hiện qua việc trân trọng những giá trị tốt đẹp của con người, thương xót cho số phận đau thương của con người, đồng thời tố cáo, lên án những thế lực đen tối chà đạp lên con người và đồng cảm, thấu hiểu ước mơ của họ

Trong đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán, tinh thần nhân đạo của đại thi hào Nguyễn Du được thể hiện ở việc ngợi ca, trân trọng vẻ đẹp đức hạnh của Thúy Kiều. Vẻ đẹp đó biểu hiện qua việc Thúy Kiều báo ân báo oán với Thúc Sinh và Hoạn Thư

Đúng với phẩm chất nhân hậu vốn có, Thúy Kiều nghĩ tới chuyện đền ơn trước rồi mới báo oán sau. Người được mời đầu tiên là Thúc Sinh

Cho gươm mời đến Thúc lang

Xem thêm:  Top 10 bài văn mẫu Phân tích cảm nhận đoạn trích Thề nguyền trong Truyện Kiều Nguyễn Du lớp 10 chọn lọc

Trước cảnh uy nghiêm “gươm lớn giáo dài”, chàng Thúc hoảng sợ đến mức Mặt như chàm đổ mình đường dẽ run, mất cả thần sắc, bước đi không vững. Hình ảnh tội nghiệp này hoàn toàn phù hợp với tính cách Thúc Sinh, một con người đa tình nhưng nhu nhược, dám yêu nhưng không dũng cảm để bảo vệ người mình yêu.

Lời nói của Kiều chứng tỏ nàng thực sự trân trọng hành động nghĩa hiệp mà Thúc Sinh đã đối với nàng trong cơn hoạn nạn

Nàng rằng: “Nghĩa nặng nghìn non,

Lâm Tri người cũ chàng còn nhớ không?

Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng

Tại ai há dám phụ lòng cố nhân?

Thúc Sinh chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh, cứu nàng thoát khỏi đời ô nhục, Kiều đã có những tháng ngày tạm thời yên ổn trong cuộc sống chung với Thúc Sinh. Nàng gọi đó là “Nghĩa nặng nghìn non”, không bao giờ quên

Kiều ân cần hỏi han Thúc Sinh để trấn an chàng. Hai chữ “người cũ” mang sắc thái thân mật, gần gũi, biểu hiện tấm lòng biết ơn chân thành của nàng. Khi nói với Thúc Sinh, trong ngôn ngữ của nàng Kiều xuất hiện nhiều từ Hán-Việt: “nghĩa”, “tòng”, “phụ”, “cố nhân”…kết hợp với điển cố Sâm Thương. Lời lẽ của Kiều là lời lẽ của một “phu nhân” với những khái niệm đạo đức phong kiến, phù hợp với chàng thư sinh họ Thúc đồng thời diễn tả được tấm lòng biết ơn trân trọng của Kiều

Vì muốn thoát khỏi cảnh “Sống làm vợ khắp người ta” nên Kiều đã nhận lời làm vợ lẽ Thúc Sinh. Nhưng cũng vì gắn bó với Thúc Sinh mà Kiều khốn khổ với thân phận tôi đòi khi rơi vào tay vợ cả là Hoạn Thư. Nàng cho rằng nỗi đau đớn của mình không phải do Thúc Sinh gây ra. Thúy Kiều cũng thấu hiểu hoàn cảnh éo le và tâm trạng của chàng. Nàng không oán trách mà đem “Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân” để đền ơn, đáp nghĩa Thúc Sinh và vẫn khiêm tốn bày tỏ “Tạ lòng dễ xứng báo ân gọi là”. Điều đó chứng tỏ Kiều là người trọng nghĩa.

Trong khi trò chuyện với Thúc Sinh, Thúy Kiều đã đả động tới Hoạn Thư, bởi vết thương trong lòng mà Hoạn Thư gây ra cho nàng vẫn còn rỉ máu, làm cho nàng không chỉ đau đớn về thể xác mà còn đau đớn gấp bội về tinh thần

Vợ chàng quỷ quái tinh ma

Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau

Kiến bò miệng chén chưa lâu

Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa

Kiều đã có hai cách nói khác nhau: nói về ân nghĩa thì trang trọng, ôn tồn; nói về oán thì nôm na, chì chiết. Nguyễn Du đã tạo nên hai giọng điệu, hai thứ ngôn ngữ trong một lượt lời của Thúy Kiều, điều đó cho thấy thi hào rất tinh tế, sâu sắc khi thể hiện tâm lí nhân vật. Dù là được báo ân, nhưng đứng trước cảnh “Vác đòng chật đất, tinh kì rợp sân”, Thúc Sinh cực kì khủng khiếp: “Mặt như chàm đổ, mình dường dẽ run”, mồ hôi toát ra “ướt đẫm “, không nói được một lời nào, sống trong tâm trạng vừa “mừng”, vừa “sợ”:

Lòng riêng mừng sợ khôn cầm,

Sợ thay mà lại mừng thầm cho ai.

Qua việc báo ân Thúc Sinh, ta thấy Thúy Kiều là một người nhân hậu, nghĩa tình “Ơn ai một chút chẳng quên”, điều đó càng thể hiện cái gốc nhân đạo sâu vững của nhà văn.

Nếu Nguyễn Du ca ngợi vẻ đẹp đức hạnh của Thúy Kiều với tấm lòng trọng nghĩa tình qua cuộc trò chuyện với Thúc Sinh, thì với Hoạn Thư, đại thi hào lại làm bật lên tấm lòng nhân nghĩa, bao dung, độ lượng của nàng

Từ lần bị đánh ghen đêm ấy, đến nay đã bao năm tháng? Gặp lại Hoạn Thư lần này, trong tư thế của người “chiến thắng” ra tay báo oán, Kiều đã “chào thưa “bằng những lời “mát mẻ”

Thoắt trông nàng đã chào thưa:

Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!

Cách chào thưa và cách gọi Hoạn Thư như vậy cho thấy cả hành động và lời nói của Thúy Kiều đều biểu thị thái độ mỉa mai. Cách xưng hô này còn là một đòn quất mạnh vào mặt người đàn bà họ Hoạn có máu ghen ghê gớm

Giọng nói trở nên chì chiết, đay nghiến. Các chữ “mấy tay”, “mấy mặt”, “mấy gan” như những mũi dao sắc lạnh:

Đàn bà dễ có mấy tay,

Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan!

Kiều nghiêm giọng cảnh cáo Hoạn Thư đã từng hành hạ mình, làm cho mình đau khổ: Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều.

Là “thủ phạm” đang đứng giữa pháp trường, xung quanh là bọn đao phủ đã “gươm tuốt nắp ra”, Hoạn Thư “hồn lạc phách xiêu”. Người đàn bà này tự biết tội trạng mình, cảnh ngộ mình, khó lòng thoát khỏi lưỡi gươm trừng phạt? Vốn khôn ngoan, sắc sảo, đứa con của “họ Hoạn danh gia” đã trấn tĩnh lại, tìm cách gỡ tội. Một cái “khấu đầu” giữ lễ, khi chân tay đang bị trói. Trước hết nhận tội “ghen tuông” và lí giải đó là chuyện “thường tình “của đàn bà. Tiếp theo Hoạn Thư gợi lại chút “ân tình ” ngày xưa: một là, đã cho Kiều xuống Quan Âm các “giữ chùa chép kinh”, không bắt làm thị tì nữa; hai là, khi Kiều bỏ trốn mang theo chuông vàng khánh bạc, đã bỏ qua. Cách nói rất khéo, chỉ gợi sự thật và chuyện cũ ra, chỉ người trong cuộc mới biết. “Nghĩ cho”là nhớ lại cho, suy nghĩ lại cho:

Nghĩ cho khi gác viết kinh,

Với khi khỏi cửu dứt tình chẳng theo.

Đối với Kiều, Hoạn Thư đã từng nói với Thúc Sinh: “Rằng: tài nên trọng mà tình nên thương”. Tuy “Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai”, nhưng trong thâm tâm, Hoạn Thư

“kính yêu ”Thúy Kiều. Hoạn Thư tự nhận tội và xin Thúy Kiều rộng lượng:

Trót lòng gây việc chông gai,Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng.

Lời gỡ tội của Hoạn Thư vừa có lí, vừa có tình. Lời cầu xin đúng mực, chân thành. Vì thế, Kiều phải “khen cho”. “Khôn ngoan đến mức nói năng phải lời”. Không thể là “người nhỏ nhen”, Kiều đã tha tội cho Hoạn Thư:

Đã lòng tri quá thì nên

Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay.,

Sự việc diễn ra quá bất ngờ, ngoài sức tưởng tượng của nhiều người. Vốn là một phụ nữ trung hậu, đã từng nếm trải bao cay đắng và ngang trái trong cuộc đời, vả lại Kiều cũng tự biết rằng mình đã xâm phạm đến hạnh phúc của người khác, tha tội Hoạn Thư, Thúy Kiều càng tỏ ra vô cùng cao thượng.Ai đã từng đọc bản dịch Kim Vân Kiều truyện, đem đối chiếu với Truyện Kiều, ta mới thấy hết tài sáng tạo của ngòi bút thiên tài Nguyễn Du, nhất là trong cảnh báo ân báo oán. Cảnh pháp trường thời trung cổ được miêu tả ước lệ mà không kém phần uy nghiêm! Lời thoại rất gọn mà sắc đã làm nổi bật tâm lí, tính cách nhân vật Thúc Sinh lành mà nhát sợ, Hoạn Thư thì khôn ngoan, sắc sảo, Kiều rất trung hậu, cao thượng, bao dung.

Chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du là một chủ nghĩa nhân đạo thấm đẫm yêu thương mà nhân vật Thúy Kiều là nhân vật mà Nguyễn Du gửi gắm tâm sự. Chủ nghĩa nhân đạo của đại thi hào đã hòa vào dòng chảy chủ nghĩa nhân đạo truyền thống của dân tộc, kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống, góp một tiếng nói bảo vệ, nâng niu giá trị con người.

Đoạn trích nói riêng và tác phẩm nói chung đã bộc lộ tài năng của Nguyễn Du về nghệ thuật xây dựng nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại. Qua những đối đáp của Thúy Kiều với Thúc Sinh và Hoạn Thư, có thể thấy Thúy Kiều đã tự bộc lộ tính cách và tâm trạng của mình một cách hết sức tự nhiên ( tấm lòng trân trọng, biết ơn với Thúc Sinh qua cách nói trang trọng, giàu ước lệ; nỗi đau đớn tủi nhục không nguôi trước sự hành hạ của Hoạn Thư khiến Kiều cũng có những lời lẽ sắc sảo, chua chát, có phần nghiệt ngã).

Từ thân phận con người bị áp bức, đau khổ, Thúy Kiều đã trở thành vị quan tòa thực hiện công lí. Đoạn thơ vừa thể hiện tinh thần nhân đạo sâu sắc của Nguyễn Du vừa phản ánh khát vọng và ước mơ công lí chính nghĩa sẽ chiến thắng của nhân dân.

phan tich tam long nhan dao cua nguyen du qua doan trich thuy kieu bao an bao oan - Top 4 bài văn mẫu Phân tích tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du qua đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán lớp 9 chọn lọc

Những bài văn mẫu phân tích tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du qua đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán

Phân tích tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du qua đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán – Bài làm 4

“Truyện Kiều” của Nguyễn Du không còn là tác phẩm xa lạ đối với mỗi chúng ta.Tác phẩm được Nguyễn Du viết bằng chữ Nôm với 3254 câu thơ lục bát dựa trên cốt truyện “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân – tác giả nổi tiếng của văn học Trung Quốc.”Truyện Kiều” không chỉ mang ý nghĩa tố cáo hiện thực xã hội bất công, bạo tàn mà còn nổi bật bởi giá trị nhân đạo sâu sắc được thể hiện thông qua nhân vật Thúy Kiều.Đây là nhân vật chính của “Truyện Kiều” và cũng là nhân vật để lại nhiều ấn tượng trong lòng bạn đọc.

Xem thêm:  Top 10 bài văn mẫu viết thư thăm thầy giáo hoặc cô giáo cũ lớp 4 chọn lọc

Giá trị nhân đạo là những tình cảm chân thành xuất phát từ trái tim người nghệ sĩ đối với nhân vật của mình nói riêng và những tình cảm đối với con người nói chung. Đó là những sự đồng cảm, niềm cảm thương dành cho những số phận bất hạnh.Bên cạnh đó, tác giả cũng thể hiện sự trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn, niềm tin vào công lí xã hội và khát vọng về sự tự do trong tình yêu của con người.Những điều ấy đều được Nguyễn Du thể hiện qua nhân vật Thúy Kiều – một hồng nhan bạc phận để lại biết bao nỗi xót thương nơi độc giả.

Nguyễn Du đã ca ngợi vẻ đẹp của nàng bằng những câu thơ ước lệ đầy ấn tượng:

“Làn thu thủy nét xuân sơn

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh

Một hai nghiêng nước nghiêng thành

Sắc đành đòi một, tài đành họa hai”.

Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn, là một người có cái nhìn tinh tế nên Nguyễn Du không thể bỏ qua chi tiết ấy.Đôi mắt của Thúy Kiều mang vẻ đẹp trong sáng của làn nước mùa thu, đôi lông mày thanh thoát như nét núi mùa xuân. Vẻ đẹp hình thể ấy khiến thiên nhiên như hoa, liễu cũng nảy sinh lòng đố kị. Phải chăng chi tiết ấy đã dự báo cho cuộc đời về sau của Thúy Kiều sẽ không được êm đềm trong “trướng rủ màn che” nữa mà sẽ gặp nhiều trắc trở, sóng gió? Các động từ “ghen” và “hờn” đã bộc lộ sự ghen ghét của thiên nhiên đối với vẻ đẹp “mười phân vẹn mười” của Thúy Kiều. Vẻ đẹp “nghiêng nước nghiêng thành”không ai sánh nổi đó trong nhân gian chỉ có duy nhất nàng Kiều còn về tài năng thì may mắn có người thứ hai. Kiều là một người vẹn toàn cả về nhan sắc và trí tuệ:

“Thông minh vốn sẵn tính trời

Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm

Cung thương làu bậc ngũ âm

Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương”.

Trời phú cho nàng sự thông minh, tài giỏi nên nàng am hiểu và có tài năng cả về bốn lĩnh vực: cầm, kì, thi, họa nhưng nàng giỏi nhất là đàn. Kiều thuộc lòng năm nốt: cung, thương, dốc, chủy, vũ trong âm giai của nhạc cổ. Tài đàn của nàng vượt xa, “ăn đứt” mọi người. Không những thế, nàng còn sáng tác “thiên Bạc mệnh” mang âm hưởng đau khổ, sầu não.

Vẻ đẹp của Thúy Kiều trở nên toàn diện hơn bởi sự hiếu thảo với cha mẹ và lòng chung thủy với người yêu:

“Duyên hội ngộ, đức cù lao

Chữ tình chữ hiếu bên nào nặng hơn?

Để lời thệ hải minh sơn

Làm con trước phải đền ơn sinh thành”.

Kiều đau đớn nhường nào khi phải lựa chọn giữa chữ hiếu và chữ tình.Nàng đã chấp nhận hi sinh tình yêu với Kim Trọng để bán mình chuộc cha và em.Ngay cả khi ở lầu Ngưng Bích, nỗi nhớ cha mẹ lại càng da diết và khôn nguôi. Nàng thương cha mẹ đã về già mà nàng thì không thể ở bên cạnh chăm sóc:

“Xót người tựa cửa hôm mai

Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ”.

Giá trị nhân đạo của “Truyện Kiều” còn được thể hiện trong tình yêu của Thúy Kiều với Kim Trọng. Đó cũng là quan niệm về một tình yêu tự do của đại thi hào Nguyễn Du. Mới gặp nhau lần đầu tiên trong tiết thanh minh nhưng cả “người quốc sắc” và “kẻ thiên tài” đều “tình trong như đã mặt ngoài còn e”. Để rồi từ đó, Kim Trọng thuê trọ gần nhà Thúy Kiều để được trông thấy nàng còn Thúy Kiều thì “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” sang nhà Kim Trọng để thề nguyền “trăm năm tạc một chữ đồng đến xương”. Tình yêu của họ là tình yêu tự do, chủ động, xuất phát từ sự tự nguyện của hai phía. Nó đã phá tan đi những lễ giáo phong kiến trói buộc người phụ nữ vào những quy tắc, luật lệ hà khắc. Họ hoàn toàn bị động và không có quyền chủ động trong tình yêu.Lòng thủy chung với chàng Kim đã khiến Thúy Kiều vô cùng đau đớn khi trao duyên lại cho Thúy Vân và mong em sẽ thay mình thực hiện lời thề nguyền với Kim Trọng.

Cuộc đời nàng là một chuỗi các bi kịch tiếp nối nhau.Tình yêu say đắm với Kim Trọng chưa được bao lâu thì “giữa đường đứt gánh tương tư” bởi biến cố bất ngờ mà gia đình Thúy Kiều gặp phải. Tình yêu tan vỡ, hai người phải chịu cảnh chia li, xa cách trong một thời gian dài và khi gặp lại nhau tuy tình cảm dành cho nhau vẫn còn nhưng hai người lại chọn cách ứng xử “duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy”.

Song song với bi kịch tình yêu là bi kịch bị chà đạp lên nhân phẩm. Để có tiền chuộc cha và em, Kiều đã bán mình cho Mã giám Sinh để làm vợnhưng kẻ lọc lừa, xảo trá ấy đã bán Kiều vào lầu xanh khiến nàng phải “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”. Nàng gặp phải những kẻ buôn thịt bán người đầy mưu mô như Tú Bà, Bạc Bà, Bạc Hạnh, Mã Giám Sinh, Sở Khanh,…Thúy Kiều phải sống cuộc sống ô nhục ở chốn lầu xanh nhơ nhớp. Đó là bức tranh hiện thực mà tác giả muốn tố cáo. Nguyễn Du đã lên án xã hội vì đồng tiền mà nhân phẩm con người bị chà đạp, sức mạnh của đồng tiền có thể đổi trắng thay đen, khiến những con người vô tội phải chịu nỗi oan uổng.

Bàn về giá trị nhân đạo của “Truyện Kiều”, Mộng Liên Đường đã đưa ra nhận định xác đáng: “Lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm trên tờ giấy khiến ai đọc cũng thấm thía ngậm ngùi”. Quả đúng là như vậy, Nguyễn Du viết về thân phận người phụ nữ bằng bao nhiêu sự xót xa, đồng cảm:

“Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”

Ông đau đớn cho số phận của Thúy Kiều phải chịu sự vùi dập. Ông cũng trân trọng khát vọng về một tình yêu tự do, khát vọng sống và khát vọng hạnh phúc của nàng. “Nếu không phải con mắt trông thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời thì không tài nào có được bút lực ấy” (Mộng Liên Đường).Nếu không phải một nhà thơ có tình yêu thương đối với những con người bất hạnh thì có lẽ Nguyễn Du đã không viết nên được tác phẩm “Truyện Kiều” nổi tiếng không chỉ trong nước mà còn được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài.

Thúy Kiều là nhân vật Nguyễn Du gửi gắm những tư tưởng nhân đạo của mình.Đồng thời, nàng cũng là nhân vật thể hiện giá trị nhân đạo của toàn bộ thiên kiệt tác. “Truyện Kiều” đã đánh thức trái tim của mỗi chúng ta, khiến chúng ta rơi lệ bởi sự thương xót cho nhân vật Thúy Kiều. “Truyện Kiều” là di sản vĩ đại, là linh hồn của dân tộc Việt Nam. “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn” (Phạm Quỳnh).

Truyện Kiều là tác phẩm nổi tiếng của nhà thơ Nguyễn Du, bên cạnh bài làm văn Phân tích nhân vật Thuý Kiều để làm nổi bật giá trị nhân đạo của Truyện Kiều, thầy cô và các bạn học sinh cùng tìm hiểu thêm các bài làm văn mẫu như Phân tích hình ảnh thiên nhiên trong truyện Kiều, Nghệ thuật miêu tả nhân vật trong Truyện Kiều, Cảm nghĩ của em về nhân vật Từ Hải trong Truyện Kiều, Vẻ đẹp ngôn từ trong truyện Kiều, Tóm tắt Truyện Kiều hay cả các phần Soạn bài Truyện Kiều.

Trên đây là những bài văn mẫu Phân tích tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du qua đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán lớp 9 hay nhất. Những bài văn mẫu này hi vọng đã giúp cho các em hiểu hơn về cách làm bài cũng như hiểu hơn về tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du.

Thu Thủy

Check Also

bai viet so 4 lop 10 de 3 thuyet minh ve mot kinh nghiem hoc van hoac lam van e1584264850645 310x165 - Top 10 bài văn mẫu Bài viết số 4 lớp 10 đề 3 Thuyết minh về một kinh nghiệm học văn hoặc làm văn lớp 10 chọn lọc

Top 10 bài văn mẫu Bài viết số 4 lớp 10 đề 3 Thuyết minh về một kinh nghiệm học văn hoặc làm văn lớp 10 chọn lọc

Hướng dẫn làm bài văn mẫu Bài viết số 4 lớp 10 đề 3 Thuyết …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *