Home / Giáo dục / Văn mẫu / Top 10 bài văn mẫu Phân tích nhân vật Nhĩ trong Bến quê lớp 9 chọn lọc

Top 10 bài văn mẫu Phân tích nhân vật Nhĩ trong Bến quê lớp 9 chọn lọc

Hướng dẫn làm bài văn mẫu Phân tích nhân vật Nhĩ trong Bến Quê lớp 9 hay nhất. Đây là dạng đề văn phân tích nhân vật vì vậy chúng ta phải bám sát vào nội dung của tác phẩm.

Tác phẩm Bến Quê của tác giả Nguyễn Minh Châu là một trong những bài văn hay của ông. Tác phẩm mang đến cho chúng ta nhiều góc nhìn mới mẻ, sâu sắc về cuộc sống. Thông qua nhân vật Mĩ, tác giả cũng muốn gửi đến người đọc một thông điệp rất giàu giá trị nhân văn đó là hãy biết trân trọng và tìm ra ý nghĩa của cuộc sống từ những điều bình dị nhất xung quanh mình. Để làm tốt đề văn phân tích nhân vật Nhĩ chúng ta cần bám sát nội dung bài Bến Quê để tìm ra được những đặc điểm về ngoại hình và tính cách của nhân vật. Dưới đây là bài văn mẫu Phân tích nhân vật Nhĩ trong Bến quê lớp 9 hay nhất cho các em tham khảo.

Phân tích nhân vật Nhĩ trong Bến quê lớp 9 – Bài làm 1

Văn học Việt Nam thời kì kháng chiến chống Mĩ có nhiều tác giả nổi tiếng trong đó có Nguyễn Minh Châu. Khi thời thế thay đổi, điểm nhìn của con người cũng thay đổi. Nhà Văn Nguyễn Minh Châu cũng vậy, sao năm 1875 ông đã có những tìm tòi đổi mới sâu sắc về văn học nghệ thuật. Chính vì vậy mà các tác phẩm truyện ngắn của ông viết sau thời điểm này mang đến nhiều cái nhìn mới mẻ. Chính vì vậy mà Nguyễn Minh Châu được đánh giá là một trong những người mở đường cho công cuộc đổi mới văn học. Tác phẩm Bến quê được xuất bản năm 1985. Cốt truyện khá bình dị nhưng lại chứa đựng những suy nghĩ, trải nghiệm sâu sắc của nhà văn về con người và cuộc đời. Thông qua đó tác phẩm đăc thức tỉnh mọi người sự trân trọng những vẻ đẹp và giá trị bình dị, gần gũi của gia đình của quê hương. Nổi bật lên trong tác phẩm này chính là nhân vật Nhĩ.

Trước hết Nhĩ là một con người từng trải, có địa vị. Nhĩ đi rộng nên hiểu biết nhiều. “Suốt đời Nhĩ đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất”. Hầu gắp các chân trời xa lạ anh đều đã in dấu chân mình lên đó. Cũng nhờ đi nhiều mà Nhĩ được ngắm nhìn biết bao nhiêu cảnh đẹp, được thưởng thức biết bao nhiêu món ăn ngon nhưng gần gũi nhất và thân thuộc nhất vẫn là cảnh đẹp và món ăn ở quê hương. Điều này, phải đến khi nằm trên giường bậy, đến những giây phút cuối đời anh mới có thể cảm nhận được một cách sâu sắc.

Từ bên trong nhà nhìn qua ô cửa sổ, Nhĩ cảm nhận được trong tiết trời lập thu vẻ đẹp của hoa bằng lăng “đậm sắc hơn”. Anh nhìn thấy sông Hồng có “màu đỏ nhạt, mặt sông như rộng thêm ra”. Bãi bồi phù sa lâu đời ở bên kia sông dưới những tia nắng sớm đầu thu đang phô ra “một thứ màu vàng thau xen với màu xanh non”. Còn bầu trời và vòm trời quê nhà thì dường như cao hơn. Mọi cảnh vật qua ô cửa sổ nhỏ đều trở nên đẹp hơn, long lanh hơn đặc biệt là khi nó được nhìn bởi con mắt của một người bệnh. Nhĩ đã đi quá nhiều nơi nên anh ngắm cảnh đẹp nơi khác có khi còn nhiều hơn cả ngắm cảnh ở quê mình. Anh thổn thức và xúc động khi đứng vẻ đẹp của quê hương. Phải chăng đó là vì cuộc sống bận rộn cuốn con người ta đi tất tả ngược xuôi hay là bởi vì anh đã quá vô tâm? Thông qua chi tiết này, Nguyễn Minh Châu muốn nhắc nhở người đọc phải biết gắn bó, biết trân trọng những cảnh vật quê hương vì những cái đó mới là máu thịt là tâm hồn của mỗi chúng ta.

Vợ của Nhĩ là một người phụ nữ tần tảo và giào đức hi sinh. Sự tần tảo ấy của Liên khiến cho Nhĩ thấy cảm động: “Anh cứ yên tâm. Vất vả tốn kém đến bao nhiêu em và các con cũng chăm lo cho anh được”. “Tiếng bước chân rón rén quen thuộc” của người vợ hiền thảo trên “những bậc gỗ mòn lõm” và “lần đầu tiên anh thấy Liên mặc áo tấm áo vá” Nhĩ đã ân hận vì sự vô tâm của mình đối với vợ. Người đàn ông có thể đi khắp năm châu nhưng trở về nhà vẫn luôn có người vợ chờ đợi mình. Nhờ vậy mà họ luôn cảm thấy ấm áp mỗi khi trở về nhà. Người vợ cũng chính là lý do khiến người đàn ông muốn quay trở về nhà. Lúc này Nhĩ cũng nhận ra một điều rằng gia đình chính là điểm tựa vững chắc nhất của cuộc đời mỗi con người.

Trong cái cảnh phải nằm trên giường bệnh và biết rằng mình chẳng còn sống được bao lâu nữa, Nhĩ biết rằng tương lai của anh chính là Tuấn, đứa con trai thứ hai của anh. Anh đã sai con đi sang bên kia sông “qua đò đặt chân lên bờ bên kia, đi chơi loanh quanh rồi ngồi xuống nghỉ chân ở đâu đó một lát rồi về. Nhĩ sai con làm vậy vì Nhĩ muốn con trai thay mặt mình qua sông để ngắm nhìn cảnh vật thân quen, bình dị mà suốt cuộc đời Nhĩ đã lãng quên. Tuy nhiên, Tuấn cũng như nhiều đứa trẻ khác vẫn còn đang trong độ tuổi ham chơi nên Tuấn “sà vào một đám người chơi phá cờ thế trên hè phố” mà quên mất việc bố nhờ. Điều này khiến Nhĩ nghĩ một cách buồn bã “con người ta trên đường đời khó tránh khỏi những điều vòng vèo hoặc chùng chình” để đến chậm hoặc không đạt được mục đích của cuộc đời.

Đối với những người hàng xóm xung quanh quan hệ của Nhĩ rất tốt. Với bọn trẻ “Cả bọn trẻ xúm vào, chúng giúp anh đặt một bàn tay lên bậu cửa sổ, kê cao dưới mông anh bằng cả một chiếc chăn gập lại rồi sau đó mới bê cái chồng gối đặt sau lưng”. Với ông cụ giáo Khuyến thì “đã thành lệ, buổi sáng nào ông cụ già hàng xóm đi xếp hàng mua báo về cũng ghé vào hỏi thăm sức khỏe của Nhĩ”. Nhĩ nhận được những sự giúp đỡ một cách vô tư, trong sáng. Qua đây ta thấy được những người hàng xóm của Nhĩ rất giàu cảm thông, chia sẻ, giản dị và chân thực.

Thông qua nhân vật Nhĩ, Nguyễn Minh Châu đã khẳng định sự phát hiện và trân trọng những vẻ đẹp gần gũi và bình dị của cuộc sống và tình yêu cuộc sống mãnh liệt.

phan tich nhan vat nhi trong ben que lop 9 2 - Top 10 bài văn mẫu Phân tích nhân vật Nhĩ trong Bến quê lớp 9 chọn lọc

Bài văn hay Phân tích nhân vật Nhĩ trong Bến quê lớp 9

Phân tích nhân vật Nhĩ trong Bến quê lớp 9 – Bài làm 2

Nhĩ thuộc kiểu nhân vật tư tưởng trong tác phẩm có tính chất luận đề nhưng nhân vật vẫn hiện ra một cách sống động vì nhà văn đã tạo ra được một tình huống truyện tự nhiên, éo le qua đó phân tích tiến trình tâm lý nhận thức.

Nguyễn Minh Châu không nói nhiều về quá khứ của Nhĩ nhưng người đọc vẫn có thể hình dung Nhĩ là người thành đạt trong công việc, anh được đi nhiều nơi, được mở mang tầm mắt. Tuy nhiên trong hiện tại này anh lại rơi vào hoàn cảnh trớ trêu: Căn bệnh quái ác đã buộc anh phải nằm liệt giường, mọi sinh hoạt đều phải trông cậy vào vợ con. Được sống chậm lại, Nhĩ có thời gian để quan sát nhìn ngắm xung quanh. Anh bỗng nhận ra rằng ở cái Bến quê này có bao nhiêu điều đẹp đẽ quý giá mà bao nhiêu năm qua anh đã vô tình không nhận ra. Đầu tiên là những sắc hoa bằng lăng màu tím thẫm, rồi bầu trời, mặt sông… Tất cả đem đến cho anh một cảm giác bình yên. Đặc biệt lần đầu tiên Nhĩ nhận ra vợ mình mặc áo vá. Một người vợ hiền thảo, chăm chút cho anh không một lời ca than. Những đứa trẻ hàng xóm vô tư giúp Nhĩ “đi nửa vòng trái đất”, lời trò chuyện của ông giáo Khuyến…Tất cả những điều tưởng như rất nhỏ bé, bình thường ấy đã làm cho Nhĩ xúc động. Anh như bừng tỉnh ra giữa một cơn mê dài. Lâu nay anh sống như một khách lạ ngay giữa gia đình và quê hương.

Hình ảnh những bông hoa bằng lăng cuối mùa màu sắc như đậm hơn, tiếng những tảng đất lở ở bờ sông khi con lũ đầu nguồn đổ về gợi cho Nhĩ linh cảm về sự sống mong manh, ngắn ngủi của mình.

Nhĩ đã muốn từ đó mà sửa chữa sai lầm. Anh muốn biết nhiều hơn về những khoảng không gian của quê hương mà nay bước chân anh không thể đặt tới. Nhĩ đã tìm ra được một giải pháp là nhờ cậu con trai. Khi nghe thấy lời đề nghị của bố, Tuấn tỏ ra ngạc nhiên. Nó không thể hiểu ra ý định sâu xa của người cha. Nhĩ không chỉ muốn nó giúp anh mà còn muốn tự nó sớm tránh khỏi những sai lầm mà anh mắc phải dẫn đến những ân hận tiếc nuối lâu nay.

Bi kịch của nhân vật Nhĩ đã bị đẩy lên cao theo mỗi bước chân của cậu con trai. Tuấn không chỉ giống Nhĩ về ngoại hình, và thật đáng buồn cậu con trai ấy lại giống anh cả về những sai lầm. Nó đã quên mất lời cha dặn vì có một thứ quyến rũ hơn: đó là phá cờ thế. Rất có thể nó đã không về kịp chuyến đò ngang duy nhất trong ngày. Hình như Nhĩ dự cảm được điều ấy, anh rút ra một triết lý vừa là cảm thông, vừa chứa đựng nỗi xót xa, chua chát: Con người ta trên đường đời khó tránh khỏi những cái điều vòng vèo hoặc chùng chình, khó tránh khỏi những sai lầm. Để nhận ra và sửa chữa nó, người ta phải mất một quãng thời gian dài và phải trả những cái giá rất đắt.

Ở cuối câu chuyện, ta bắt gặp một cảnh tượng thật đáng thương và đáng suy ngẫm. Mặt Nhĩ đỏ rựng lên, anh thu tất cả sức lực giơ bàn tay lên khoát khoát như ra hiệu cho một ai đó, như đang khẩn thiết ra hiệu cho một ai. Người ấy có thể là con trai anh nhưng người đọc cũng có thể hiểu rằng đây chính là cái khoát tay giục giã của chính Nguyễn Minh Châu dành cho chúng ta: hãy biết tìm về với những giá trị đích thực của cuộc đời.

Xây dựng nhân vật Nhĩ, Nguyễn Minh Châu đã thể hiện ngòi bút nghệ thuật đặc sắc của mình và một tình huống đầy nghịch lý, đi sâu vào khám phá đời sống nội tâm, lựa chọn được những chi tiết giàu ý nghĩa biểu tượng, trần thuật bằng giọng văn vừa mang màu sắc trữ tình, vừa giàu tính triết lý.

Qua nhân vật này Nguyễn Minh Châu gửi đến chúng ta thông điệp giàu giá trị nhân văn: hãy biết trân trọng và tìm ra ý nghĩa cuộc sống từ những điều bình dị nhất xung quanh mình, khi ấy gia đình và quê hương sẽ là cái “bến” bình yên với mỗi chúng ta trong hành trình làm người của mình.

Phân tích nhân vật Nhĩ trong Bến quê lớp 9 – Bài làm 3

Là một trong những cây bút tiêu biểu của nền văn học kháng chiến chống Mỹ, Nguyễn Minh Châu có nhiều những tìm tòi quan trọng góp phần đổi mới văn học nước nhà. Truyện ngắn của ông thường chứa đựng những suy ngẫm trải nghiệm sâu sắc về con người và cuộc đời. “Bến quê” là tác phẩm tiêu biểu cho đề tài đó.

Toàn bộ câu chuyện xoay quanh nhân vật Nhĩ trong những ngày cuối đời. Chuỗi nghịch lý bắt đầu chính trong những ngày ấy. Bị cột chặt trên giường bệnh, Nhĩ phát hiện ra vẻ đẹp lạ lùng của bãi bồi bên kia sông. Cảnh vật nơi ấy đẹp như thơ như hoạ: Những bông bằng lăng cuối mùa thưa thớt nhưng đậm sắc, con sông Hồng màu đỏ nhạt, ánh nắng sớm, vùng phù sa lâu đời của bãi bồi bên kia sông … Những cảnh sắc vốn quen thuộc gần gũi nhưng dường như rất mới mẻ đối với anh. Chính vào lúc nhận ra vẻ đẹp và sự giàu có của bến quê cũng là lúc Nhĩ hiểu ra một cách đau xót, bởi một người “đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất” lại chưa từng đặt chân lên “cái bờ bên kia sông Hồng ngay trước cửa sổ nhà mình”.

Căn bệnh liệt gắn chặt Nhĩ vào giường bệnh. Mọi sinh hoạt của anh trông cả vào sự chăm sóc của vợ con. Sáng hôm ấy, bằng trực giác, anh nhận ra thời gian của mình chẳng còn bao lâu nữa, anh mới cảm nhận thấm thía về người vợ của mình. Nhĩ để ý “thấy Liên mặc áo vá”, “những ngón tay gầy guộc âu yếm vuốt ve bên vai anh”, anh nói với vợ những lời xót xa, ân hận: “Suốt đời anh chỉ làm em khổ tâm”. Giờ đây Nhĩ mới thực sự thấu hiểu và biết ơn vợ sâu sắc bởi “tâm hồn Liên vẫn giữ nguyên vẹn những nét tảo tần và chịu đựng hy sinh từ bao đời xưa và cũng chính nhờ điều đó, mà sau nhiều tháng ngày bôn tẩu tìm kiếm, Nhĩ đã tìm thấy được nơi nương tựa là gia đình trong những ngày này”. Nhĩ – con người của một thời huy hoàng, cho đến khi không còn khả năng đi lại mới phát hiện ra vẻ đẹp của bến quê cũng như sự tảo tần và đức hy sinh của vợ. Trước khi ốm anh chỉ biết đến những chân trời xa ngát với những công việc cao sang mà thờ ơ, vô tình với tất cả những gì gần gũi xung quanh, kể cả người vợ suốt một đời yêu thương và tận tuỵ. Sự thấu hiểu muộn màng trong những ngày cuối đời dù sao cũng đem lại cho anh sự bình yên, tin cậy sau cả một đời bôn tẩu, kiếm tìm.

Song nghịch lý của câu chuyện không chỉ có thế. Cũng trong buổi sáng hôm ấy, khi nhận ra vẻ đẹp qua ô cửa sổ, Nhĩ bừng dậy nỗi khát khao cháy lòng và vô vọng là một lần được đặt chân lên bãi bồi bên kia sông. Khát khao đó mang ý nghĩa sâu sắc bởi đó chính là sự thức tỉnh về những giá trị bền vững, bình dị mà sâu xa của cuộc sống, những giá trị dễ bị ta vô tình, bỏ qua và quên lãng nhất là lúc còn trẻ khi những khát vọng xa vời vẫy gọi, cuốn người ta đi. Sự nhận thức này chỉ đến được với ta khi đã từng trải. Với Nhĩ, đó là lúc cuối đời khi phải nằm liệt trên giường bệnh. Vì thế đó là sự thức tỉnh pha lẫn niềm ân hận xót xa: “Họa chăng chỉ có anh đã từng trải, đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết mọi sự giàu có lẫn vẻ đẹp của bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia cả trong những nét tiêu sơ và cái điều riêng anh khám phá thấy giống như một niềm say mê pha lẫn nỗi ân hận đau đớn”. Với anh, bây giờ đó thực sự là miền đất xa lắc vì Nhĩ “lực bất tòng tâm”. Không thể tự làm điều mình khao khát, Nhĩ nhờ con trai thay mình sang sông, đặt chân lên bãi phù sa màu mỡ. Oái oăm thay, đứa con không hiểu ước muốn của cha, đã đi một cách miễn cưỡng và bị cuốn vào trò chơi phá cờ thế trên hè phố. Cậu con trai có thể lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày. Từ đó Nhĩ nghiệm ra một qui luật khá phổ biến của đời người “Con người ta trên đường đời thật khó tránh được những điều vòng vèo hoặc chùng chình”. Anh không trách con vì “nó đã thấy gì hấp dẫn bên kia sông đâu”.

Ở cuối truyện, khi Nhĩ tưởng tượng chính mình như một nhà thám hiểm đang chậm rãi đặt từng bước chân lên mặt đất dấp dính phù sa. Nhĩ xúc động mạnh, chân dung anh khác thường “mặt mũi đỏ rựng, hai mắt long lanh chứa một nỗi say mê đầy đau khổ”. Khi con đò sắp chạm vào bờ đất bên này, Nhĩ thu hết tàn lực, đu người lên cửa sổ, giơ cánh tay gầy guộc “khoát khoát y như đang khẩn thiết ra hiệu cho một người nào đó”. Phải chăng anh đang nôn nóng thúc giục con trai hãy mau hơn kẻo lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày? Và dường như nó còn có ý nghĩa khái quát hơn: Muốn thức tỉnh mọi người vượt lên những cái vòng vèo hoặc chùng chình trên đường đời để hướng tới những giá trị đích thực vốn rất gần gũi bình dị mà bền vững!

Bằng cách tạo dựng chuỗi nghịch lý để nhân vật tự nhận thức, suy ngẫm và cách xây dựng nhiều hình ảnh, chi tiết mang ý nghĩa biểu tượng tác giả đã tạo nên ý nghĩa sâu xa cho tác phẩm. Ngòi bút miêu tả thiên nhiên đẹp, tinh tế, giọng văn thầm trầm ẩn chứa những chiêm nghiệm, suy ngẫm của tác giả đã góp phần không nhỏ tạo nên những ấn tượng riêng cho tác phẩm.

Những dòng cuối cùng của “Bến quê” khép lại nhưng dư âm từ những trải nghiệm sâu sắc của nhà văn về cuộc đời và con người dường như vẫn còn lan toả đâu đây, thức tỉnh trong ta sự trân trọng vẻ đẹp về những gì bình dị, gần gũi của gia đình, quê hương, xứ sở.

Xem thêm:  Top 10 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ lớp 10 chọn lọc

Phân tích nhân vật Nhĩ trong Bến quê lớp 9 – Bài làm 4

Nguyễn Minh Châu là một trong số ít những nhà văn khai phá và thành công với công cuộc “tìm kiếm những hạt ngọc ẩn giấu trong tâm hồn con người”. Những tác phẩm của ông giàu chất chiêm nghiệm và tính triết lí khái quát. Nhân vật trong những truyện ngắn của ông thường mang đầy tâm trạng và rất nặng lòng với cuộc đời, với con người sống quanh mình. Nhân vật Nhĩ trong truyện ngắn “Bến quê” cũng nằm trong số ấy.

“Bến quê” là một truyện ngắn được rút trong tập truyện cùng tên của Nguyễn Minh Châu. Tác phẩm được xuất bản năm 1985 tiêu biểu cho sự đổi mới về tư tưởng và nghệ thuật của tác giả. Cốt truyện “Bến quê” rất bình dị, thậm chí “bằng phẳng” nhưng lại mang hàm nghĩa triết lí sâu sắc. Tác phẩm ghi lại những gì mắt thấy tai nghe, những gì cảm nhận suy ngẫm của nhân vật Nhĩ khi nằm trên giường bệnh. Nhĩ được người vợ tần tảo chăm sóc, được các cháu hàng xóm sang giúp đỡ, được ông giáo hàng xóm hỏi han. Nhĩ nhờ cậu con trai đi sang bên kia bờ sông giúp bố…

Qua tất cả những điều đó, Nguyễn Minh Châu nói lên những suy nghĩ về con người, về cuộc đời về cách sống, ông nhắc nhở con người phải biết nâng niu, trân trọng những vẻ đẹp bình dị của quê hương xứ sở, của nơi chôn rau cắt rốn…

Nhĩ là một người từng đi nhiều nơi trên thế giới: “suốt đời Nhĩ đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên Trái Đất”. Vậy nên, có thể hiểu rằng, trong anh luôn tràn ngập những cảnh lộng lẫy, nhộn nhịp của bao cảnh phồn hoa, đô hội. Không chỉ thế, chẳng có vẻ đẹp nào tồn tại trên đời nay anh chưa được thưởng thức. Nhưng trớ trêu thay, anh lại một rơi vào một bi kịch của sự sống: anh bị một căn bệnh quái ác hoành hành, phải nằm liệt giường hàng tháng trời nay. Trong nghịch cảnh bi đát ấy, anh chợt phát hiện ra vẻ đẹp chốn quê hương bình dị, đẹp đẽ của mình. Nhĩ đã phát hiện ra vùng đất bên kia sông, nơi bến quê thân thuộc nghèo khó của mình lai có một vẻ đẹp bình dị mà quyến rũ. Người vợ tảo tần lam lũ, những người hàng xóm truân chuyên mộc mạc,… Ở họ toát lên một vẻ đẹp cao quý đáng trân trọng của tình cảm vợ chồng, tình làng nghĩa xóm ân tình thắm thiết. Hoàn cảnh nhân vật khẽ nhắc nhở bạn đọc rằng: cuộc sống và số phận con người chứa đầy những điều bất thường, những nghịch lý, ngẫu nhiên, vượt ra ngoài những dự định và ước muốn, cả những hiểu biết và toan tính của con người.

Phân tích nhân vật Nhĩ trong Bến quê lớp 9 – Bài làm 5

Nguyễn Minh Châu là cây bút xuất sắc của văn học Việt Nam thời kì kháng chiến chống Mĩ. Sau năm 1975, bằng những tìm tòi đổi mới sâu sắc về văn học nghệ thuật, đặc biệt là về truyện ngắn, Nguyễn Minh Châu trở thành một trong những người mở đường cho công cuộc đổi mới văn học. Đặc biệt, Bến Quê là một trong những truyện ngắn xuất sắc của ông, qua số phận và hoàn cảnh nhân vật Nhĩ-nhân vật chính của truyện, nhà văn gửi đến chúng ta những thông điệp sâu sắc đầy tính nhân văn về cuộc sống và con người, khơi dậy trong ta tình yêu quê hương đất nước là yêu những gì bình dị, thân thuộc.

Nhân vật Nhĩ là nhân vật chính của truyện, trước hết Nhĩ là một người từng trải, đi rộng và có hiểu biết sâu rộng về cuộc sống. Suốt đời Nhĩ đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất”, anh đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ. Có thể nói bao cảnh đẹp những nơi phồn hoa đô hội gần xa, những miếng ngon nơi đất khách quê người, anh đã được thưởng thức. Nhưng chính vào giờ phút cuối cùng của cuộc đời, thì một người yêu thích những chuyến đi như anh lại phải chịu một bi kịch là nằm trên giường bệnh và không được đi đâu. Và cũng chính lúc nằm trên giường bệnh anh thấm thía nhận ra những vẻ đẹp gần gũi, bình dị của quê hương ngay quanh mình.

Nhĩ là một người có lòng yêu gia đình, yêu quê hương sâu sắc, cảm động. Khi chứng kiến người vợ của mình là Liên mặc tấm áo vá gầy xanh xao khi phải lo chạy chữa và chăm sóc mình đã xót xa nhận ra: gia đình chính là điểm tựa vững chắc nhất trong cuộc đời mỗi con người. Chỉ khi đi qua bao nhiêu chặng đường, hiểu thấm thía về cuộc sống thì cái tình cảm gia đình tuy thầm lặng mà xúc động nghẹn ngào như thế. Rồi, khi bị ốm không tự do đi lại, anh đã ngắm được cảnh đẹp của quê hương, của những thứ thân thuộc và bình dị mà bấy lâu nay anh chưa từng hay để ý tới. Qua cửa sổ nhà mình Nhĩ cảm nhận được trong tiết trời lập thu vẻ đẹp của hoa bằng lăng “đậm sắc hơn”. Sông Hồng “màu đỏ nhạt, mặt sông như rộng thêm ra”, bãi bồi phù sa lâu đời ở bên kia sông dưới những tia nắng sớm đầu thu đang phô ra “một thứ màu vàng thau xen với màu xanh non…” và bầu trời, vòm trời quê nhà “như cao hơn”. Đó là những gì rất bình dị mà đơn sơ, không phải là cái gì đó cao rộng và hùng vĩ như những chuyến đi của anh trước kia, nhưng bấy lâu nay anh đã vô tình đánh mất những kí ức về nó và rồi bây giờ đây, trong những giờ phút cuối tuổi hoa niên anh mới thấm thía đau đớn nhận ra. Sự bừng tỉnh của nhân vật Nhĩ cũng chính là thông điệp mà nhà văn muốn gửi đến chúng ta: rằng cá đẹp ở ngay cuộc sống bình dị xung quanh ta, nhắc nhở ta hãy biết sống chậm lại để nhận ra những giá trị và vẻ đẹp đơn sơ mà thiêng liêng ngay bên cạnh mình, đừng lao đi trên đường đười tấp nấp và bỏ quên những gì gọi là bất biến. Bởi chính những gì tuy bình dị, gần gũi của quê hương yên bình mới là máu thịt của ta, là cái trường tồn, vĩnh cửu. Cũng chính vì thế, khao khát được đặt chân lên bãi bờ bên kia để cảm nhận được sâu sắc vị mặn mòi, đằm thắm của quê hương, Nhĩ đã gửi cả vào đứa con trai là Tuấn của mình.. Nhĩ đã sai con đi sang bên kia sông “qua đò đặt chân lên bờ bên kia, đi chơi loanh quanh rồi ngồi xuống nghỉ chân ở đâu đó một lát, rồi về”. Nhĩ muốn con trai thay mặt mình qua sông, để ngắm nhìn cảnh vật thân quen, bình dị mà suốt cuộc đời Nhĩ đã lãng quên. Ở cuối câu chuyện, ta bắt gặp một cảnh tượng thật đáng thương và đáng suy ngẫm. Mặt Nhĩ đỏ rựng lên, anh thu tất cả sức lực giơ bàn tay lên khoát khoát như ra hiệu cho một ai đó, như đang khẩn thiết ra hiệu cho một ai. Người ấy có thể là con trai anh nhưng người đọc cũng có thể hiểu rằng đây chính là cái khoát tay giục giã của chính Nguyễn Minh Châu dành cho chúng ta: hãy biết tìm về với những giá trị đích thực của cuộc đời. Từ đó đủ để thấy trong lòng Nhĩ chưa bao giờ quên nhắc nhở lòng mình về cội nguồn, gốc rễ của bản thân, biết ân hận và lo lắng khi thấy Tuấn đang sa đà vào một đám chơi khác. Nếu không phải là người tự hào và tha thiết gắn bó với quê hương, liệu Nhĩ có hành động như vậy chăng?

Bằng ngòi bút nghệ thuật đặc sắc và tinh tế, Nguyễn Minh Châu đã thành công trong việc gửi gắm những thông điệp về cuộc sống à con người để nhân vật của mình không trở thành cái loa phát ngôn của nhà văn. Diễn tả chân thực và sinh động nội tâm phức tạp của Nhĩ đã giúp người đọc có được những trải nghiệm thú vị về nhân vật, để khơi dậy lòng yêu quê hương, đất nước xuất phát từ việc yêu những điều bình dị, nhỏ bé, gần gũi quanh ta.

Để người đọc thấm thía chiêm nghiệm rằng gia đình và quê hương sẽ là cái “bến” bình yên với mỗi chúng ta trong hành trình làm người của mình.

Nhân vật Nhĩ sẽ là một hình tượng nghệ thuật được nhắc mãi trong hành trình sáng tác của Nguyễn Minh Châu, giúp tên tuổi của nhà văn sống mãi trong lòng bạn đọc bưởi những thông điệp giàu tính nhân văn.

phan tich nhan vat nhi trong ben que lop 9 1 - Top 10 bài văn mẫu Phân tích nhân vật Nhĩ trong Bến quê lớp 9 chọn lọc

Những bài văn mẫu Phân tích nhân vật Nhĩ trong Bến quê lớp 9

Phân tích nhân vật Nhĩ trong Bến quê lớp 9 – Bài làm 6

Nguyễn Minh Châu (1930-1989) là một trong số những nhà văn tiêu biểu của nền văn xuôi đương đại Việt Nam. Cách sáng tác trước năm 1975 của ông là những bức tranh hiện thực sinh động về con người và cuộc sống của nhân dân ta trong những năm chống Mĩ cứu nước. Với khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn huyền ảo, những trang văn của Nguyễn Minh Châu đã từng tạo nên vẻ đẹp rực rỡ trong các tác phẩm như: “Mảnh trăng cuối rừng”, “Dấu chân người lính”, “Cửa sông”… Những năm sau 1975, ông là nhà văn sớm nhất có sự trăn trở, khao khát đổi mới văn học, bởi ông coi “văn học và cuộc sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người”. Vì thế, từ khuynh hướng sử thi lãng mạn – “sự kiện lấn át con người”, ông chuyển sang đề tài “thế sự đời tư” (cuộc sống đời thường) với tính triết luận về những giá trị nhân bản đời thường, khám phá bản chất con người trong cuộc sống mưu sinh, trong hành trình nhọc nhằn kiếm tìm hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách. Hai tập truyện ngắn “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành” (1983) và “Bến quê” (1985)với những bài tiểu luận phê bình văn học đã đưa Nguyễn Minh Châu lên vị trí “người mở đường tinh anh và tài năng” của văn học nước ta sau 1975. Đoạn trích “Bến quê” in trong tập truyện cùng tên của nhà văn, xuất bản năm 1985, rất tiêu biểu cho hướng tiếp cận đời sống từ góc độ “thế sự đời tư” ở giai đoạn sáng tác thứ hai. Cái nhìn hiện thực đa chiều đã giúp cho nhà văn nhận ra những quy luật mang đầy tính nghịch lí, mâu thuẫn khó có thể lường hết được trong cuộc sống này. Điều đó đã được tác giả thể hiện qua việc khắc họa hình tượng nhân vật Nhĩ – một nhân vật tư tưởng gắn liền với những suy ngẫm, chiêm nghiệm triết lí về con người và cuộc đời.

Truyện được kể theo ngôi thứ ba nhưng toàn bộ diễn biến câu chuyện được nhìn qua lăng kính tâm trạng, suy nghĩ của nhân vật Nhĩ với một hoàn cảnh đặc biệt: sắp giã từ cuộc đời. Từ đó, giúp cho câu chuyện trở nên chân thực, sinh động, đồng thời toàn bộ tư tưởng, chủ đề của truyện được truyền tải một cách dễ dàng, tự nhiên, gần gũi và sâu sắc.

Nhĩ – một con người đã từng chu du đi khắp nơi trên trái đất với bất kể xó xỉnh nào anh cũng đã từng đặt chân tới nhưng đến phút giây cuối đời anh lại phải cột chặt thân mình bên giường bệnh. Và khi phải bó mình trên chiếc giường chật hẹp, không đi lại được anh mới chợt nhận ra vẻ đẹp giàu có của bãi bồi bên kia sông Hồng – nơi mà anh chưa từng đặt chân đến và vẻ đẹp tâm hồn của người vợ nhưng tiếc thay đã quá muộn màng.

Trước hết câu chuyện mở ra với những cảm nhận thật tinh tế của Nhĩ về vẻ đẹp của thiên nhiên, nơi bãi bồi bên kia sông vào buổi sáng sớm đầu thu. Khung cảnh được tạo dựng trong cái nhìn từ gần tới xa, từ thấp tới cao, từ mặt đất lên bầu trời của Nhĩ, rất đẹp, bình yên, thơ mộng, mang đậm hơi thở của làng cảnh quê hương. Cảnh như chất chứa, thấm thía cảm xúc, tâm trạng của con người nhân vật. Những bông hoa bằng lăng cuối mùa còn sót lại trên cành trở nên đậm sắc hơn; con sông Hồng như nhuốm một màu đỏ nhạt, mặt sông như rộng ra thêm; vòm trời cũng như cao hơn với những tia nắng sớm đang từ từ di chuyển từ mặt nước lên những khoảng bờ bên kia sông. Và tất cả như “đang phô ra trước khuôn cửa sổ của gian gác nhà Nhĩ một thứ màu vàng thau xen với màu xanh non – những màu sắc thân thuộc quá như da thịt hơi thở của đất màu mỡ”. Không gian cảnh quê ấy với Nhĩ sao mà vừa thân thương, quen thuộc lại vừa lạ lẫm, mới mẻ đến vậy. Vẻ đẹp ấy ngày nào chẳng có, vẫn luôn thường trực quanh anh nhưng sao bây giờ sắp phải rời xa nó mãi mãi anh mới chợt nhận ra sự giàu có trù phú mĩ lệ của miền đất ấy. Vì thế, trong lòng Nhĩ dâng lên một niềm xót xa, pha lẫn sự nuối tiếc, ân hận: “từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất” nhưng ” chưa hề bao giờ đi đến cái bờ bên kia sông Hồng, ngay trước cửa sổ nhà mình”. Vì thế trong lòng anh rực lên một niềm khát khao cháy bỏng muốn được đặt chân lên bãi bồi bên kia sông Hồng để chiêm ngưỡng và tận hưởng vẻ đẹp bình dị và gần gũi ấy. Nhưng tiếc thay, niềm hi vọng đó song hành cùng sự tuyệt vọng, bởi trong tình cảnh bệnh tật của bản thân, giờ đây anh không thể thực hiện được ước muốn tưởng chừng nhỏ bé, giản đơn đó nữa. Đây chính là sự thức tỉnh những giá trị bền vững, bình dị nhưng vô cùng sâu sa trong cuộc sống, những giá trị thường bị con người lãng quên, nhất là khi còn trẻ trước những ham muốn, khát vọng lôi cuốn. Sự thức này chỉ đến với những con người từng trải, đến với Nhĩ khi mà anh đang sắp giã từ cuộc đời này để trở về cõi hư vô. Cho nên, Nhĩ cảm thấy ân hận, xót xa: “Họa chăng chỉ có anh đã từng trải, đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết sự giàu có lẫn mọi vẻ đẹp của một cái bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia, cả trong những nét tiêu sơ, và cái điều riêng anh khám phá thấy giống như một niềm mê say pha lẫn với nỗi ân hận, đau đớn, lời lẽ không bao giờ giải thích hết…”.

Do không thể trực tiếp thực hiện được khát vọng đi tới “miền đất mơ ước” ấy nên Nhĩ đã nhờ vả đứa con trai thay mình đặt chân lên bãi bồi bên kia sông. Nhưng cậu bé đã không hiểu được ý cha nên nó chịu đi một cách miễn cưỡng và rồi bị cuốn vào trò chơi phá cờ thế bên dọc đường, có thể làm lỡ mất chuyến đò duy nhất trong ngày. Anh nhớ lại thời trai trẻ của mình cũng ham chơi như thế, vả lại nó cũng chưa nhận ra sự hấp dẫn bên kia sông, nên anh không trách cậu bé. Từ đó, anh rút ra một triết lí có tính chất tổng kết, chiêm nghiệm về qui luật của cuộc đời con người: “Con người ta trên đường đời khó tránh khỏi những điều vòng vèo hoặc chùng chình”.

Trong lúc cậu con trai của anh bắt đầu ra đi thực hiện ước mơ của mình thì cũng là khi anh dùng chút tàn lực cuối cùng còn sót lại xê mình ra khỏi tấm nệm, lên chiếc phản gỗ để tới gần bên cửa sổ nhiều hơn. Việc làm ấy khiến anh “mệt lử”, “đau nhức” như vừa đi “được nửa vòng trái đất”. Còn nửa vòng nữa, anh buộc lòng phải nhờ cậy mấy bọn trẻ con hàng xóm giúp đỡ. Và anh cảm thấy mình thật buồn cười, y như một đứa trẻ toét miệng cười khi đang được tận hưởng sự chăm sóc và chơi với. Đến bên cửa sổ, Nhĩ nhìn thấy xa xa một cánh buồn trên mặt sông. Anh cảm tưởng như chính mình trong tấm áo màu xanh trứng sáo hay chiếc mũ nan rộng vành, như một nhà thám hiểm đang chậm rãi đặt từng bước chân lên cái mặt đất dính phù sa. Nhĩ xúc động: “mặt mũi Nhĩ đỏ rựng một cách khác thường, hai con mắt long lanh chứa một nỗi say mê đầy đau khổ, cả mười đầu ngón tay Nhĩ đang bấu chặt vào cái bậu cửa sổ, những ngón tay vừa bấu chặt vừa run lẩy bẩy. Anh đang cố thu nhặt hết mọi chút sức lực cuối cùng còn sót lại để đu mình nhô người ra ngoài, giơ một cánh tay gầy guộc ra phía ngoài cửa sổ khoát khoát y như đang khẩn thiết ra hiệu cho một người nào đó”. Hành động đó của Nhĩ thể hiện sự nôn nóng, thức giục con trai hãy mau mau đi đi không lại lỡ mất chuyến đò. Hay đó chính là điều mà tác giả muốn gửi gắm cho chúng ta đừng để mất thời gian vô ích cho những cái “chùng chình”, “vòng vèo” trên đường đời mà hãy hướng tới những giá trị đích thực, giản dị, bền vững quanh ta.

Xem thêm:  Top 10 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng lớp 10 chọn lọc

Bằng ngòi bút đào sâu đến tận cùng cái thật chứa đầy bí ẩn, với tư tưởng “đi tìm hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người”, Nguyễn Minh Châu đã khắc họa thành công vẻ đẹp trong sáng, dịu dàng của người phụ nữ giàu lòng yêu thương, đức hi sinh, tận tụy vì chồng, vì con của một người vợ, người mẹ. Đó chính là Liên (vợ Nhĩ). Tất cả điều này đã được Nhĩ cảm nhận trong những giầy phút cuối cùng của cuộc đời khi bên cạnh gia đình, trong vòng tay chăm sóc, vỗ về, động viên của vợ con. Lần đầu tiên Nhĩ mới để ý thấy Liên mặc tấm áo vá, những ngón tay gầy guộc âu yếm vuốt ve bên vai của anh và Nhĩ chợt nhận ra tình yêu thương, sự tần tảo cùng sự hi sinh một cách thầm lặng của vợ. Anh đã nói với Liên: “Suốt đời anh chỉ làm em khổ tâm mà em vẫn nín thinh”. Và Liên đáp lại câu trả lời ấy: “Có hề sao đâu, miễn là anh sống, luôn luôn có mặt anh, tiếng nói của anh trong gian phòng này”. Và thực sự giờ đây, Nhĩ mới thấm thía hết được vẻ đẹp tâm hồn đó của Liên với lòng biết ơn sâu nặng: “Cũng như cảnh bãi bồi đang nằm phơi mình bên kia sông, tâm hồn Liên vẫn giữ nguyên vẹn những nét tảo tần và chịu đựng hi sinh từ bao đời xưa và cũng nhờ có điều đó mà sau nhiều ngày tháng bôn tẩu tìm kiếm… Nhĩ đã tìm thấy được nơi nương tựa là gia đình trong những ngày này”. Nhĩ một con người của thời đại mới chỉ biết chạy theo những ước vọng xa vời mà lãng quên đi những vẻ đẹp bình dị, thân quen mà mình đang có. Để rồi khi vấp ngã, khi phải sắp chia xa với cuộc sống này vĩnh viễn thì anh mới chịu nhận ra quê hương, gia đình, người vợ mới là bến đậu, là nơi nương tựa bình yên và vững chắc nhất cho con người sau hành trình đi xa trở về. Mặc dù nhận thức của Nhĩ dẫu có chút muộn màng nhưng dù sao anh cũng đã kịp nhận ra trước sự sai lầm của mình, giúp anh cảm thấy thanh thản, nhẹ nhàng hơn.

Nhân vật Nhĩ là kiểu nhân vật tư tưởng, chứa đựng ý đồ sáng tác nghệ thuật của nhà văn. Tuy nhiên nhân vật không phải là “cái loa phát thanh” của nhà văn mà Nguyễn Minh Châu đã khéo léo dựng lên một cuộc đời, một số phận với một hoàn cảnh éo le, nghịch lí. Để rồi, nhân vật tự đúc rút, chiêm nhiệm ra những chân lí, bài học có tính tổng kết về con người và cuộc đời. Qua đó, ta thấy được tài năng dựng truyện, khắc họa miêu tả tâm lí nhân vật và nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Minh Châu thật tài tình, độc đáo. Khép lại “Bến quê”, hình ảnh nhân vật Nhĩ cứ lần lượt hiện lên với biết bao nhiêu những bài học triết lí sâu sắc giàu tính nhân văn của cuộc sống con người. Từ đó, ta càng thấm thía hơn và biết trân trọng hơn những giá trị vững bền, bình dị, gần gũi quanh ta như gia đình, quê hương.

Phân tích nhân vật Nhĩ trong Bến quê lớp 9 – Bài làm 7

Nguyễn Minh Châu là một trong những tác giả xuất sắc nhất của văn học Việt Nam hiện đại. Những tác phẩm của ông thiên về chiêm nghiệm, triết lí về cuộc đời. Bến quê thể hiện rất rõ đặc trưng phong cách đó của ông. Với tình huống truyện nhận thức đã giúp tác giả thể hiện những suy nghĩ, trải nghiệm sâu sắc của nhà văn về con người và cuộc đời, thức tỉnh ở mọi người cần trân trọng những vẻ đẹp và giá trị bình dị, gần gũi của gia đình của quê hương. Những suy tư, trải nghiệm đó được thể hiện rõ nét qua nhân vật Nhĩ, cũng là nhân vật chính trong tác phẩm.

Trước hết về hoàn cảnh sống của Nhĩ, cuộc sống hiện tại của anh hết sức đáng thương. Anh ở trong một căn hộ tập thể chật hẹp trên tầng hai. Cuộc sống có phần nghèo túng vất vả thể hiện rõ nhất qua chiếc áo vá, đôi tay gầy guộc của người vợ. Càng đáng thương hơn khi anh vốn là người không bỏ sót “một xó xỉnh nào trên trái đất” nay lại phải nằm liệt giường, bất cứ hoạt động nào cũng cần có sự trợ giúp của những người xung quanh. Ốm yếu bệnh tật bủa vây lấy anh: những mảng da sau lưng lở loét, da mặt đỏ dựng lên, ngồi dậy một chút đã thấy nhọc,… Dường như trong chính bản thân anh cũng cảm nhận được sức khỏe của mình ngày một đi xuống. Tuy thuốc thang ngày nào cũng uống nhưng anh thấy bệnh tình vẫn không thuyên giảm, nhấc mình ra khỏi chỗ ngồi anh có cảm tưởng như vừa bay được nửa vòng trái đất; rồi cả đêm qua những tiếng đất lở của bên kia sông “cùng với con lũ nguồn đã bắt đầu dồn về, những tảng đất đổ òa vào giấc ngủ” khiến anh hoảng hốt hỏi vợ “hôm nay đã là ngày mấy rồi em nhỉ”. Sức khỏe ngày một đi xuống nhưng tinh thần anh lại tỉnh táo hơn bao giờ hết, bởi vậy, dù những lời động viên của vợ “sang tháng mười, nhất định anh đi lại được” cũng chẳng thể làm anh an lòng, bởi anh hiểu rõ nhất cơ thể mình ra sao.

Nhĩ là người có tâm hồn nhạy cảm, giàu trải nghiệm nên suy nghĩ thâm trầm, sâu xa và triết lí. Trái tim nhạy cảm được thể hiện trong chính những cảm nhận của anh về vẻ đẹp quê hương, về bãi bồi bên kia sông. Những bông hoa bằng lăng đã nhạt màu vì vào cuối mùa, nhưng những cánh hoa còn sót lại dường như lại sẫm màu hơn, thứ ánh nắng chói lóa của mùa hè đã biến mất; con sông Hồng màu đỏ nhạt, “lòng sông như rộng thêm ra”, di chuyển điểm nhìn lên cao Nhĩ nhận thấy bầu trời cũng cao và rộng ra hơn. Trong những giờ phút cuối cùng của cuộc đời, anh đem tất cả các giác quan để cảm nhận đầy đủ, trọn vẹn vẻ đẹp của quê hương. Và để hoàn chỉnh bức tranh quê hương anh còn nhận thấy vẻ đẹp của bãi bồi bên kia sông, tưởng gần mà hóa ra đến cuối cuộc đời anh mới nhận ra vẻ đẹp bình dị ấy: “sông Hồng lúc này đang phô ra trước khuôn cửa sổ của gian gác nhà Nhĩ một thứ màu vàng thau xen với màu xanh non – những màu sắc thân thuộc quá như da thịt, hơi thở của màu đất mỡ”. Thiên nhiên dưới con mắt tinh tế của Nhĩ hiện lên thật đầy đủ, thật rõ nét mà cũng hết sức đẹp đẽ, nên thơ. Cảnh vừa có bề rộng, vừa có bề sâu. Đó là những hình ảnh vốn quen thuộc, gần gũi nhưng giờ đây bỗng trở nên đặc biệt bởi lần đầu tiên Nhĩ cảm nhận được vẻ đẹp của nó. Nó nhắc nhở Nhĩ về những điều quý giá mà anh đã bỏ qua bấy lâu nay.

Trong những ngày trên giường bệnh anh còn hiểu ra và trân trọng người vợ luôn bên cạnh mình; anh thêm yêu những người hàng xóm thân thiện, luôn bên hỏi han, giúp đỡ anh. Chị Liên là người vợ tảo tần, luôn yêu thương và quan tâm đến anh. Những ngày anh bị bệnh chị luôn tìm cách động viên “sang tháng mười, nhất định anh đi lại được”; chị tinh tế tránh những câu hỏi của anh để làm Nhĩ bớt lo lắng. Anh còn nhận thấy sự khổ cực vất vả trên người phụ nữ của mình: chiếc áo vá, đôi bàn tay gầy guộc, anh càng thương và cảm thấy có lỗi: “suốt đời anh chỉ làm em khổ tâm … mà em vẫn nín thinh”. Tất cả những điều ấy càng làm anh thêm hiểu yêu và trân trọng hơn người vợ của mình. Không chỉ vậy, anh còn nhận ra vẻ đẹp của tình làng nghĩa xóm, mùi mồ hôi chua lòm của lũ trẻ, sự quan tâm hỏi han của bác hàng xóm không khỏi làm anh xúc động. Cái bến quê bình dị, đẹp đẽ ấy chính là nơi mà con người ta phải đến cuối đời mới hiểu, mới thấu hết giá trị và ý nghĩa của nó.

Sự sâu sắc, thâm trầm trong anh còn được thể hiện trong ước nguyện giản dị mà có phần kì cục theo ý nghĩ của người con trai đó là sang được cái bờ bên kia của một khúc sông Hồng. Dưới mắt Nhĩ đó là bến quê, hay rộng ra đó chính là chân trời mà cả cuộc đời anh chưa một lần khám phá. Nhưng mơ ước của anh lại vấp phải nghịch lí, anh không thể di chuyển đi đâu khỏi chiếc giường này, anh đặt hết hi vọng vào đứa con trai của mình: “Bây giờ con sang bên kia sông hộ bố…” “Chẳng để làm gì cả. Con hãy qua đò đặt chân lên bờ bên kia, đi chơi loanh quanh rồi ngồi xuống nghỉ chân ở đâu đó một lát, rồi về …”. Người con làm sao có thể hiểu được những ước mong, suy nghĩ của anh, bởi vậy đáp lại cậu con trai miễn cưỡng cầm mấy đồng tiền lẻ rồi đi. Phát hiện ra vẻ đẹp ở bên kia sông nhưng lại không thể đặt chân sang, anh đặt hết hi vọng vào con nhưng Tuấn lại làm chẳng mấy hào hứng, thấm chí lơ đễnh, sa vào ván cờ thế ven đường, để lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày. Trong nỗi tuyệt vọng xen lẫn xót xa, Nhĩ đâm ra hoang tưởng, nghĩ chính bản thân mình trên con đò sang sông với “tấm áo màu xanh trứng sáo và chiếc mũ nan rộng vành, như một nhà thám hiểm đang chậm rãi đặt từng bước chân lên cái mặt đất dấp dính phù sa”. Đó là miền đất anh mơ ước, miền đất ấy cũng gợi ra trong Nhĩ biết bao suy nghĩ về cuộc đời. Nơi đẹp đẽ nhất trên thế giới này chính là bến quê thân thuộc, vẻ đẹp không lung linh, rực rỡ, thậm chí có nét tiêu điều, nhưng ấy là nơi đẹp nhất mà người ta phải đi qua rất nhiều nơi mới nhận ra vẻ đẹp khuất lấp ấy. Trên đường đời có rất nhiều biến cố, chùng chình, vòng vèo chúng ta phải tính tảo để nhận ra và tránh khỏi những vòng vèo đó để đến với những giá trị bền vững, đích thực trong cuộc sống.

Nghệ thuật xây dựng nhật vật đặc sắc, đi sâu vào diễn biến tâm lí, nội tâm nhân vật từ đó đưa ra những suy tư, chiêm nghiệm về cuộc đời. Nhân vật Nhĩ chính là hóa thân của tác giả nên giọng điệu của văn bản như những lời tự thoại, nhờ đó mà tác phẩm trở nên chân thực và có chiều sâu hơn. Ngoài ra cũng cần nói đến nghệ thuật xây dựng tình huống truyện độc đáo, chứa nhiều nghịch lí giúp nhân vật thể hiện được những suy nghĩ, chiêm nghiệm của mình.

Nguyễn Minh Châu đã xây dựng thành công nhân vật Nhĩ, một nhân vật tư tưởng để gửi gắm những chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc đời. Nhân vật này đã trở thành một lời cảnh tính đối với mỗi chúng ta, đó là không được sa vào những cái vòng vèo, chùng chình mà phải biết tìm về với bến quê, trân trọng và nâng niu những vẻ đẹp giản dị, gần gũi đó.

Phân tích nhân vật Nhĩ trong Bến quê lớp 9 – Bài làm 8

Nội dung tư tưởng của “Bến quê” được thể hiện qua những cảm xúc và suy nghĩ của nhân vật Nhĩ.

Trước hết là cảm nhận của Nhĩ về vẻ đẹp thiên nhiên trong một buổi sáng đầu thu, được nhìn từ khung cửa sổ của căn phòng mình.

Cảnh vật được miêu tả theo tầm nhìn của Nhĩ, từ gần đến xa, tạo thành một không gian có chiều sâu, chiều rộng.

Cảnh đó có những vẻ đẹp riêng mà được cảm nhận bằng những cảm xúc tinh tế. Những chùm hoa bằng lăng thưa thớt nhưng lại đậm sắc hơn, con sông Hồng màu đỏ nhạt, mặt sông như rộng thêm ra, vòm trời như cao hơn, “những tia nắng sớm đang từ từ di chuyển từ mặt nước lên những khoảng bờ bãi bên kia sông, và cả một vùng phù sa lâu đời của bãi bồi bên kia sông Hồng lúc này đang phô ra trước khuôn cửa sổ của gian gác nhà Nhĩ như một thứ màu vàng thau xen với màu xanh non – những màu sắc thân thuộc quá như da thịt, hơi thở của đất màu mỡ”. Không gian và những cảnh sắc ấy vốn quen thuộc, gần gũi, nhưng lại rất mới mẻ với Nhĩ, tưởng chừng như lần đầu tiên anh cảm nhận được tất cả vẻ đẹp và sự giàu có của nó.

Từ cảnh vật, hoàn cảnh của mình Nhĩ đã phát hiện quy luật giống như một nghịch lý của đời người.

Hoàn cảnh của Nhĩ bệnh tật hiểm nghèo kéo dài, mọi sự phải trông cậy vào sự chăm sóc của vợ con. Trong cái buổi sáng đó, Nhĩ đã nhận ra như bằng trực giác, thời gian của mình như chẳng còn bao lâu nữa (chú ý những chi tiết: câu hỏi của Nhĩ với Liên: “Đêm qua lúc gần sáng em có nghe thấy tiếng gì không?” và “Hôm nay đã là ngày mấy rồi em nhỉ?”, còn Liên thì hầu như cũng đã cảm nhận được tình cảm ấy của Nhĩ, nên chị lảng tránh trả lời những câu hỏi của anh).

Lần đầu tiên Nhĩ để ý thấy Liên đang mặc tấm áo vá, những ngón tay gầy guộc âu yếm vuốt ve bên vai của anh, và Nhĩ nhận ra tất cả tình yêu thương, sự tần tảo và đức hi sinh thầm lặng của vợ (Nhĩ nói với Liên: “Suốt đời anh chỉ làm em khổ tâm… mà em vẫn nín thinh”, còn Liên đã trả lời: “Có hề sao đâu … Miễn là anh sống, luôn có mặt anh, tiếng nói của anh trong nhà này”. Chính trong những ngày cuối đời, Nhĩ mới thật sự thấu hiểu lòng biết ơn sâu sắc với người vợ: “cũng như cánh bãi bồi đang nằm phơi mình bên kia, tâm hồn Liên vẫn giữ nguyên nét tảo tần và chịu đựng hi sinh từ bao thời xưa, và cũng chính nhờ có điều đó mà sau nhiều ngày tháng bôn tẩu, tìm kiếm … Nhĩ đã thấy được nơi nương tựa là gia đình trong những ngày này”.

Chính vào buổi sáng hôm ấy, khi nhận ra tất cả vẻ đẹp của cảnh vật rất đỗi bình dị và gần gũi qua ô cửa sổ căn phòng, đồng thời cũng hiểu rằng mình sắp phải giã biệt cõi đời, ở Nhĩ bừng dậy một niềm khao khát vô vọng là được đặt chân một lần lên bãi bồi bên kia sông. Điều ước muốn ấy chính là sự thức tỉnh về những giá trị bền vững, bình thường và sâu xa của cuộc sống – những giá trị thường bị người ta bỏ qua, lãng quên, nhất là lúc còn trẻ, khi những ham muốn xa vời đang luôi cuốn con người tìm đến. Sự thức nhận này chỉ đến được với người ta ở cái độ đã từng trải, bởi thế đó là sự thức tỉnh có xen với niềm ân hận và nỗi xót xa “Họa chăng chỉ có anh đã từng trải, đã từng in gót chân sắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết sự giàu có lẫn mọi vẻ đẹp của một cái bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia”.

Không thể nào làm được cái điều mình khao khát, Nhĩ đã nhờ đứa con trai thay mình đi sang bên kia sông, đặt chân lên cái bãi bồi phù sa màu mỡ. Nhưng ở đây anh lại gặp một nghịch lý nữa: Đứa con không hiểu được ước uốn của cha, nên làm một cách miễn cưỡng và rồi lại bị cuốn hút vào trò chơi nó hấp dẫn nó gặp ngay trên đường đi, để rồi có thể lỡ chuyến đò ngang duy nhất trong ngày. Từ sự việc ấy, Nhĩ đã nghiệm ra được cái quy luật phổ biến của đời người “con người ta trên đường đời thật khó tránh được những cái điều vòng vèo hoặc chùng chình”. Anh không trách đứa con trai bở vì “vả lại nó đã thấy gì đáng hấp dẫn ở bên kia sông đâu”.

Ở cuối truyện, khi thấy con đò ngang vừa chạm mũi đất bên này sông, Nhĩ đã thu hết tàn lực dồn vào một cử chỉ có vẻ kỳ quặc “Anh đang cố thu nhặt hết mọi chút sức lực cuối cùng còn sót lại để đu mình nhô ra ngoài, giơ một cánh tay gầy guộc ra phía ngoài cửa sổ khoát khoát – y nhưng đang khẩn thiết ra hiệu cho một người nào đó”. Hành động cuối cùng này của Nhĩ có thể hiểu là anh đang nôn nóng thúc giục cậu con trai hãy mau kẻo lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày. Nhưng hình ảnh này còn gợi ra ý nghĩa khái quát đó. Đó là ý muốn thức tỉnh mọi đường đời, để dứt khoát khỏi nó, để hướng tới những giá trị đích thực, vốn rất giản dị, gần gũi và bền vững.

Xem thêm:  Top 6 bài văn mẫu Phân tích cảm nhận 8 câu thơ cuối trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích lớp 9 chọn lọc

Nhân vật Nhĩ trong truyện là nhân vật tư tưởng, một loại nhân vật nổi lên trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu giai đoạn sau 1975. Nhà văn đã gửi gắm qua nhân vật nhiều điểm quan sát, suy ngẫm, triết lý về cuộc đời con người. Nhưng nhân vật không bị biến thành cái loa phát ngôn cho tác giả. Những chiêm nghiệm, triết lý đã được chuyển hóa vào cuộc sống nội tâm của nhân vật, với diễn biến của tâm trạng dưới sự tác động của hoàn cảnh được miêu tả tinh tế, hợp lý.

Phân tích nhân vật Nhĩ trong Bến quê lớp 9 – Bài làm 9

Nguyễn Minh Châu một trong những nghệ sĩ đổi mới âm thầm mà quyết liệt nhất của văn học Việt Nam sau năm 1986. Bởi vậy ông được đánh giá là người mở đường tinh anh và tài hoa của văn học nước nhà. Cả cuộc đời ông là hành trình khám phá, tìm tòi không ngừng nghỉ trong việc đổi mới cách viết. Bến quê chính là một trong những tác phẩm như vậy. Với nhân vật Nhĩ, Nguyễn Minh Châu đã gửi gắm những triết lí sâu sắc của con người, của cuộc đời.

Cuộc đời, số phận của nhân vật này được tác giả dựng lên bằng hàng loạt các nghịch lí, và cũng từ chính những nghịch lí đó, Nhĩ đã nhận ra, đã chiêm nghiệm biết bao điều trong cuộc sống mà bấy lâu nay anh vô tình hoặc cố ý lãng quên. Cái hay của tác phẩm chính là ở chỗ đó.

Nghịch lí thứ nhất trong cuộc đời Nhĩ đó là cả đời di chuyển khắp nơi, không thiếu một xó xỉnh nào trên thế giới, ấy vậy mà những ngày cuối cùng của cuộc đời anh lại phải chôn chân giữa một tấm phản, mọi sự di chuyển đều khó khăn và phải nhờ đến sự giúp đỡ của người khác. Anh đi khắp mọi nơi nhưng cái bãi bồi bên kia sống Hồng, ngay trước mặt anh, anh lại chưa một lần đặt chân đến. Đây chính là một ngịch lí vô cùng đáng buồn. Người vợ tảo tần, những đứa trẻ hàng xóm đáng yêu, vậy mà bấy lâu nay anh bỏ bê vô tình hay cố ý lãng quên mất. Chỉ đến thời khắc ấy, khi bình tâm, anh mới nhận ra tất cả vẻ đẹp vốn có trong họ, để rồi xót xa, tiếc nuối về những gì đã qua. Đặt nhân vật vào một chuỗi những nghịch lí để rồi từ đó giúp Nhĩ nhận ra những gì mình đã bỏ lỡ, những giá trị đích thức của cuộc sống. Đồng thời cũng gửi gắm đến bạn đọc thông điệp: trong bước đường đời khó tránh khỏi những vòng vèo, chùng chính, chúng ta cần tỉnh tảo để nhận thấy và trân trọng những giá trị tốt đẹp của cuộc sống.

Nhĩ nằm đó trong những nỗi rối bời của cảm xúc, suy tư để rồi tự sám hối, tự nhận thức. Nhận thức đầu tiên chính là cảm xúc về khung cảnh thiên nhiên. Anh nhận ra những bông bằng lăng cuối mùa đã đậm sắc hơn, dòng sông Hồng mang màu đỏ nhạt, mặt sông như rộng thêm ra, và xa xa là cánh buồm màu nâu bạc,… Mọi thứ đã phô diễn trước khung cửa nhà anh, “màu vàng thau xen với màu xanh non – những màu sắc thân thuộc quá như da thịt, hơi thở của đất màu mỡ”. Một chân trời ần gũi đến vậy, nhưng đối với Nhĩ “lại xa lắc vì chưa hề bao giờ đi đến – cái bờ bên kia sông Hồng ngay trước cửa sổ nhà mình”. Có chăng đây chính là những tâm tư của con người đã từ đi đến bốn phương, nhưng phương quê nhà lại vô tình lãng quên. Đây cũng chính là những cái chùng chình, vòng vèo mà Nhĩ gặp phải trong cuộc sống, bởi vậy, trong giờ phút ngắn ngủi cuối đời anh càng cảm thấy tiếc nuối, xót xa hơn.

Sau những chiêm nghiệm về thiên nhiên, Nhĩ hướng mắt về người vợ suốt một đời của mình – chị Liên. Anh thấy ở chị đức tính dịu dàng, chu đáo, một đức hi sinh thầm lặng. Chiếc áo vá chị đã mặc biết bao năm, đôi tay gầy guộc, cư xử tinh tế để không khiến chồng lo lắng. Và Nhĩ chợt nhận ra sự nghiệt ngã của thời gian đối với mình, cả đời anh không quan tâm đến vợ con nhưng đến những ngày cơ cực, vợ anh vẫn tảo tần ở bên, Nhĩ cay đăng thốt lên: “Suốt đời anh chỉ làm em khổ tâm … mà em vẫn nín thinh”. Cho đến cuối đời Nhĩ mới nhận ra được cái đẹp trong tâm hồn vợ : cũng như cánh bãi bồi đang nằm phơi mình bên kia, tâm hồn Liên vẫn giữ nguyên vẹn những nét tần tảo và chịu đựng hi sinh từ bao đời xưa và cũng chính nhờ có điều đó mà sau nhiều ngày tháng bôn tẩu, tìm kiếm… Nhĩ đã tìm thấy được nơi nương tựa là gia đình trong những ngày này. Nhưng mọi sự ân hận của Nhĩ dường như đã quá muộn màng. Những ngày tháng dài rộng anh lại chẳng thể ở bên, đến khi nhận ra thì đã bước sang cái dốc bên kia của cuộc đời.

Từ những cảm nhận về thiên nhiên và vợ, Nhĩ nhận thấy vẻ đẹp muôn thuở của quê hương: “Suốt đời Nhĩ đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất” đã thức dậy trong anh khao khát mãnh liệt được sang bãi bồi bên kia sông. Nơi tưởng gần mà đối với anh đã xa lắc, bởi vậy anh đã gửi gắm nguyện ước đó vào người con trai mới lớn của mình. Nhưng Tuấn – con trai anh, lại không hiểu cái thế giới mơ ước của cha, không hiểu được cái đẹp trong nét tiêu sơ ấy mà đã sa vào một ván cờ thế ven đường. Những hành động của Tuấn cũng chính là hình ảnh phản chiếu của Nhĩ thuở nào. Anh chẳng thể trách con, bởi chính bản thân mình cũng đã không tránh được những cái vòng vèo, chùng chình cuộc đời, để rồi cuối cùng chỉ còn mang nặng nỗi tiếc nuối trong tâm hồn.

Nhưng có lẽ hình ảnh ấn tượng và in dấu ấn đậm nét nhất trong lòng người đọc là khi Nhĩ có cử chỉ khác thường lúc nhìn thấy con thuyền duy nhất trong ngày từ từ đi sang sông. Anh bám chặt tay vào cửa sổ, đôi mắt long lạnh sáng một cách khác thường, anh run lên vừa say mê vừa đau khổ, cố bám víu niềm hạnh phúc cuối cùng của mình. Bằng chút sức lực tàn cuối cùng anh “đu mình, nhô người ra ngoài cửa sổ” như để với tới gần hơn miền đất đẽ đẹp trong mơ ước của mình. Cánh tay anh khoát khoát với con thuyền có lẽ cũng chính là lời tạ từ cuối cùng anh dành cho quê hương, tạm biệt mơ ước cả đời anh không thể thực hiện, tạm biệt với những gì thân thương, gần gũi nhất trong cuộc đời anh. Hành động cuối cùng của anh cũng chính là lời nhắc nhở, lời cảnh tỉnh đối với tất cả mọi người, hãy sống một cuộc đời có ích, hướng đến những giá rị đích thực của cuộc sống, đừng theo đuổi những điều xa vời, mà hãy trân trọng những tình cảm đẹp đẽ tồn tại xung quanh ta.

Với nghệ thuật miêu tả, phân tích tâm lí nhân vật tài tình, Nguyễn Minh Châu đã làm sắc nét chiều sâu tâm lí nhân vật. Qua đó làm toát lên những suy nghĩ, chiêm nghiệm về con người và cuộc đời. Để từ đó gửi gắm đến bạn đọc những bài học ý nghĩa của cuộc sống.

phan tich nhan vat nhi trong ben que lop 9 - Top 10 bài văn mẫu Phân tích nhân vật Nhĩ trong Bến quê lớp 9 chọn lọc

Bài văn mẫu Phân tích nhân vật Nhĩ trong Bến quê lớp 9

Phân tích nhân vật Nhĩ trong Bến quê lớp 9 – Bài làm 10

“Cây đa, bến nước, mái đình

Nghìn năm sâu đậm nghĩa tình quê hương”.

Câu ca dao gợi tình cảm quê hương, gợi nhớ những bến quê quen thuộc. Bến quê nơi có những xóm chài với dăm ba mảnh thuyền giăng lưới. Bến quê, nơi có cái xóm lẻ với những rặng tre xanh, vài cây sung chín rụng. Và cái bến quê ấy đã đi vào sáng tác của Nguyễn Minh Châu qua truyện ngắn “Bến quê”. Nhưng đâu chỉ là những nét tả chân cái bến quê nào đó, qua tác phẩm, tác giả còn muôn gửi gắm những suy nghĩ trảinghiệm sâu sắc của nhà văn trước cuộc đời, thức tỉnh mọi người về những vẻ đẹp và giá trị cao quý của những điều bình dị gần gũi quanh ta.

Năm 1980, năm lịch sử Việt Nam có nhiều biến động về an ninh quốc phòng, về kinh tế, văn hóa tư tưởng… Với Nguyễn Minh Châu nó còn là thời điểm, một bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp văn chương của ông. Nhà văn có nhiều tìm tòi đổi mới về. đề tài và phong cách sáng tác. Có thể kể đến “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành”, “Cỏ lau”… và một “Bến quê” với dấu ấn khó quên có ý nghĩa tổng kết cuộc đời một con người.

“Bến quê” được rút ra từ tập truyện ngắn cùng tên, là một trong những truyện ngắn đặc sắc của nhà văn để lại nhiều dư ba tốt đẹp. Qua một cốt truyện giản dị, một tình huống nghịch lí nhưng cũng rất đời thường, nhà văn đã phát hiện ra những chiều sâu mới của đời sống với bao quy luật và nghịch lí, vượt ra khỏi giới hạn chật hẹp của những cách nhìn, cách nghĩ trước đó của xã hội và của chính tác giả. Triết lí trong “Bến quê” góp phần chứng minh các cuộc đời đa sự, con người đa đoan và cuộc đời con người chẳng giản đơn chút nào.

Cốt truyện được xây dựng trên một tình huống chứa đựng mâu thuẫn. Nhân vật chính là anh Nhĩ, người đã từng đi khắp đó đây, biết nhiều hiểu rộng, thế giới với anh là không xa lạ nhưng cuối đời lại bị cột chặt trên giường bệnh bởi căn bệnh hiểm nghèo. Cái trớ trêu của cuộc đời là ở chỗ đó, khi có thể Nhĩ đã không làm cái điều anh nên làm; còn khi nhận ra cái mình phải thực hiện, anh lại không thể làm được. Cuộc đời con người là xâu chuỗi những nghịch lí.

Nằm trên cái giường đặt cạnh cửa sổ, Nhĩ có thể quan sát được toàn cảnh. Nhưng nhất cử nhất động phải nhờ vào mọi người. Những ngày tháng nằm trên giường bệnh toàn thân bại liệt như thế, Nhĩ đã có những suy nghĩ gì? Tình huống nghịch lí thứ hai lại xuất hiện không kém phần kịch tính: Nhĩ phát hiện ra vẻ đẹp lạ lùng của bãi bồi bên kia sống ngay phía trước cửa sổ vào một buổi sáng chớm thu mà bình thường anh đã vô tình không nhận ra dù nó ỗ quanh anh, rất gần. Nhĩ đã nhờ con trai giúp mình thực hiện khát khao đó, nhưng rồi cậu ta mải chơi và để lỡ chuyến đò ngang.

Tạo ra một xâu chuỗi những tình huống nghịch lí như trên, tác giả muốn người đọc suy nghĩ về một vấn đề của cuộc đời: cuộc sống và số phận con người chứa đầy những điều bất thường, ngẫu nhiên, vượt ra ngoài dự định ước muốn, từ đó mở ra một nội dung triết lí mang tính tổng kết những trải nghiệm của cả đời người, của tính người: “Con người ta trênđường đời thật khó tránh được những cái điều vòng vèo hoặc chùng chình…”.

Cảnh vật được tả theo tầm nhìn của Nhĩ, từ gần đến xa, tạo thành một không gian có chiều sâu, rộng: từ “Những chùm hoa bằng lăng cuối mùa thưa thớt nhưng đậm sắc hơn…” đến những “dòng sông màu đỏ nhạtnhư rộng thêm”, “vòm trời như cao hơn”, “Bờ bãi màu vàng thau xen màu xanh non…”. Cảm nhận về một buổi sáng chớm thu thật tinh tế, cảnh vật vừa quen vừa lạ, tưởng chừng như lần đầu tiên cảm thấy tất cả vẻ đẹp và sự giàu có của nó.

Nhĩ hỏi vợ đến hai câu về không gian (Đêm qua em có nghe thấy tiếng gì không?) và về thời gian (Hôm nay là ngày mấy?), nhưng đều nhận được thái độ im lặng khác thường của vợ. Liên – vợ anh – né tránh câu trả lời bởi nó báo hiệu điềm gở xảy ra. Dường như cảm nhận được điều đó qua thái độ của vợ, Nhĩ nhận ra mình sắp từ giã cuộc đời, anh phải đối diện với thực tế đau buồn, bi đát và không lối thoát này. Một chút xót xa, tiếc nuối, đau đớn trong lòng.

Phải chăng cái gì ta đang có thì ít khi nhận ra giá trị của nó, còn cái gì ta sắp mất ta mới cảm nhận nó quý giá vô cùng. Điều đó càng đúng hơn với trường hợp của Nhĩ. Cô gái chít khăn nâu mỏ quạ mới hôm nào theo anh về nhà sống đoan trang, nết na, chu toàn bổn phận, anh ít khi quan tâm cái vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất của chị. Đến hôm nay, nằm trên giường bệnh được chị chăm sóc tận tụy, hi sinh cả chuyện áo quần để chồng có chén thuốc chữa bệnh, cử chỉ chăm sóc nhẹ nhàng chu đáo, lời nói ân cần… là tất cả kho báu của đời anh. Thế mà mãi đến bây giờ chân lí ấy mới sáng tỏ. Anh nhận ra cô gái chân quê ấy trở thành chỗ dựa tinh thần, là mái ấm của anh trong những ngày cuối đời. Có muộn màng lắm không đốivới Nhĩ và cả với Liên?

Nhĩ chợt nghĩ ra một sáng kiến: anh nhờ con trai thực hiện nguyện vọng cuối cùng của mình là đặt chân sang bờ bãi bên kia sống Hồng, lòng mong con hiểu được ý định của mình và càng mong có được những cảm nhận và rung động của mình khi sang bến bờ bên kia. Nhưng cuộc đời đâu đơn giản như thế, không phải điều gì muốn là được toại nguyện. Thật ra, khát khao được sang bãi bồi bên kia sống đâu phải là chuyện lớn lao, khó khăn. Nhưng cái đó đối với Nhĩ thì không thể thực hiện được. Còn đứa con trai không hiểu ý bố.Nó vô tư dừng lại bên đường sa vào phá cờ thế để lỡ chuyến đò ngang, chuyến đò duy nhất trong ngày. Nhĩ không trách con, chỉ ngẫm nghĩ và tự trách mình. Con trai anh đã bỏ lỡ cơ hội này nhưng nó còn nhiều cơ hội khác còn anh thì đã để mất tất cả, kể cả cơ hội cuối cùng. Anh gửi gắm ước mơ, nguyện vọng nơi con trai – máu mủ của mình – mà nó vẫn không hiểu bố. Hai thế hệ khó hiểu nhau và cảm thông nhau cũng là điều đáng buồn.

Ởcuối truyện Nhĩ có một hành động có vẻ kì quặc nhưng ta có thể hiểu được anh đang muốn gì. Anh hối hả giục anh con trai đang mải xem cờ thế, nhanh chân cho kịp chuyến đò. Nhưng cũng có thể hiểu rộng hơn nhà văn muốn thức tỉnh mọi người hãy sống khẩn trương, sống có ích,đừng la cà, chùng chình, dềnh dàng ở những cái vòng vèo vô bổ mà chúng ta rất dễ sa đà, để dứt ra khỏi nó, để hướng tới những giá trị đích thực vốn giản dị, gần gũi và bền vững.

Nhà văn sáng tạo ra những hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng. Trong “Bến quê”, hầu như mọi hình ảnh đều mang hai lớp nghĩa: nghĩa thực và nghĩa biểu tượng. Hai lớp nghĩa này gắn bó thống nhất. Dù có ý nghĩa biểu tượng nhưng trước hết nó vẫn có giá trị tả thực. Đó là hình ảnh bãi bồi bến sống, hoa bằng lăng cuối mùa, những tảng đất lở ở bờ sống, đứa con trai mải chơi phá cờ thế, Nhĩ khoát khoát tay… tất cả đều có ý nghĩa biểu tượng nhưng vẫn giàu sức gợi tả và biểu cảm.

Giọng kể ở ngôi thứ ba của một người ngoài cuộc nhưng lại rất đồng cảm với nhân vật Nhĩ vì được kể từ tầm nhìn của Nhĩ. Cách xây dựng tâm lí nhân vật phù hợp với tình huống và diễn biến câu chuyện. Những đoạn miêu tả rất sinh động bằng đường nét, màu sắc tạo hình, gợi cảm. Tình huống truyện đơn giản mà bất ngờ và nghịch lí.

Đọc truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu nói chung và “Bến quê” nói riêng, chúng ta đều có chung một cảm nhận: hay và sâu sắc. Nhà văn đã len lỏi vào lâu đài nội tâm của con người để khai thác và thể hiện. Tính nhân văn và triết lí rất cao. Nếu không có những trải nghiệm thực tế, nếu không có những tìm tòi công phu chắc hẳn Nguyễn Minh Châu khó có được những thành công như hôm nay.

“Bến quê” đưa ta về một không gian đầy kỉ niệm và cảm xúc mà khó ai quên được:

“Qua sông nhớ mãi con đò

Chiều quê năng hạt, cánh cò nhẹ tênh

Mây xanh dăm vệt bồng bềnh

Cách diều ai thả chông chênh cuối làng”.

Trên đây là bài văn mẫu Phân tích nhân vật Nhĩ trong Bến quê lớp 9 hay nhất. Qua đây hi vọng các em đã hiểu được về nhân vật Nhĩ và có thể tự làm bài văn này.

Thu Thủy

Check Also

bai viet so 4 lop 10 de 3 thuyet minh ve mot kinh nghiem hoc van hoac lam van e1584264850645 310x165 - Top 10 bài văn mẫu Bài viết số 4 lớp 10 đề 3 Thuyết minh về một kinh nghiệm học văn hoặc làm văn lớp 10 chọn lọc

Top 10 bài văn mẫu Bài viết số 4 lớp 10 đề 3 Thuyết minh về một kinh nghiệm học văn hoặc làm văn lớp 10 chọn lọc

Hướng dẫn làm bài văn mẫu Bài viết số 4 lớp 10 đề 3 Thuyết …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *