Home / Giáo dục / Văn mẫu / Top 10 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác lớp 9 chọn lọc

Top 10 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác lớp 9 chọn lọc

Hướng dẫn làm bài văn mẫu Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương lớp 9 hay nhất. Đây là bài thơ giàu cảm xúc và đầy chân thành.

Với một đề văn phân tích các em cần bám sát vào từ ngữ trong bài thơ này để có thể phân tích được một cách sâu nhất. Để làm tốt, các em cũng cần phải nắm được hoàn cảnh sáng tác bài thơ. Bài thơ này được viết khi nhà thơ Viễn Phương lần đầu ra thủ đô Hà Nội viếng thăm lăng Bác. Các em biết đấy, đối với người Việt Nam Bác như vị cha già, có ai mà không xót thương khi nhìn người cha của mình nằm đó lặng im. Dưới đây sẽ là bài văn mẫu Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác lớp 9 hay nhất cho các em tham khảo.

Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác lớp 9 – Bài làm 1

Những bài hát, vần thơ viết về Bắc chắc chắn không còn xa lạ gì với chúng ta nữa. Người ra đi, để lại một nỗi đau lớn cho dân tộc. Dù muốn hay không chúng ta cũng phải chấp nhận sự thật này. Và để tưởng nhớ Người, bày tỏ sự thành kính của mình với Người, nước ta đã xây dựng lăng Bác để bất cứ khi nào chúng ta cũng có thể đến thăm Bác. Nhà thơ Viễn Phương cũng đã từng được đến thăm lăng Bác sau ngày lăng Bác được khánh thành. Sự xúc động của nhà thơ đã khiến tác giả viết nên bài thơ Viếng lăng Bác. Bài thơ sau đó đã để lại một dấu ấn lớn trong thi ca Việt Nam và làm nên tên tuổi cho nhà thơ Viễn Phương.

Bài thơ mở đầu theo một cách rất đỗi bình dị, đó là một lời chào, một lời tự giới thiệu của bản thân tác giả khi đối diện với Bác:

Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

Đọc câu thơ lên, người đọc hiểu ra rằng, à, tác giả là một người miền Nam. Một con người đến từ miền quê mà khi còn sống Bác Hồ đã từng nói miền Nam là máu của máu Việt Nam, là người của người Việt Nam. Nói như vậy để thấy rằng tình cảm của Bác dành cho miền Nam và tình cảm của miền Nam dành cho bác lớn đến thế nào. Ở đây, tác giả dùng từ thăm trong thăm hỏi, một từ mà người ta chỉ dùng cho người còn sống. Như vậy là đã rõ, trong lòng người con miền Nam này, Bác vẫn như đang còn sống. Vậy nên tác giả mới tới để hỏi thăm.

Đến với lăng Bác, ấn tượng với nhà thơ chính là hàng tre xanh:

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam

Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng

Còn nhớ xưa kia, Thánh Gióng nhờ có tre mà đánh đuổi được giặc Ân, giữ vững được nền độc lập của nước nhà. Tre xanh từ bao đời qua đã gắn bó với người dân Việt Nam. Nếu như trước đây nhờ có tre xanh mà chúng ta giữ được làng, được nước thì ngày nay nhờ có tre xanh mà chúng ta có được cuộc sống sung túc hơn. Hình ảnh cây tre trở thành biểu tượng của con người Việt Nam, biểu tượng cho sự đoàn kết và ý chí kiên cường của con người.

Nhắc đến hình ảnh hàng tre trong những vần thơ đầu tiên, chắc chắn nhà thơ Viễn Phương không đơn thuần chỉ là tả thực. Hàng tre xanh mọc xung quanh lăng Bác như thay thế cho triệu triệu con dân Việt Nam vẫn ở bên cạnh Bác mỗi ngày. Hàng tre xanh như những người lính gác bảo vệ xung quanh lăng Bác, giữ cho giấc ngủ của Bác được yên bình. Thán từ “Ôi” xuất hiện ở đầu câu thơ thứ 3 đã cho thấy một niềm xúc động tự hào của tác giả. Xúc động khi nhớ lại những năm tháng đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Tự hào khi chúng ta có Bác dẫn đường, chỉ lối để chúng ta có được nền độc lập như ngày hôm nay. Khí phách của người Việt vẫn là lưu truyền từ đời này qua đời khác.

Khổ thơ tiếp theo xuất hiện hình ảnh mặt trời. Có tới 2 mặt trời trong khổ thơ này, liệu tác giả có đang nói một điều phi lý, đi ngược lại tự nhiên hay không?

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân

Đọc câu thơ lên ta thấy được hình ảnh mặt trời của tự nhiên. Đó là ông mặt trời đỏ rực, thứ giúp đem đến nguồn sáng cho loài người, giúp duy trì sự sống trên hành tinh của chúng ta. “Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng” đó là một hình ảnh tả thực, mặt trời ở đây cũng là mặt trời thực. Sang đến câu thơ tiếp theo, tác giả sử dụng biện pháp ẩn dụ khi mượn hình ảnh mặt trời để nói về Bác. Như vậy, tác giả không hề phi lý bởi chúng ta đều hiểu rằng đối với người dân Việt Nam thì Bác chẳng khác nào mặt trời. Bác là vầng thái dương chiếu soi cho người dân Việt Nam tìm thấy con đường cách mạng đúng đắn. Bác giúp cho chúng ta giành được độc lập và no ấm. Người dân Việt Nam biết ơn Bác nên khi Bác xa rồi, ngày ngày vẫn có những dòng người vào lăng viếng Bác. Điệp từ ngày ngày cho thấy sự lặp lại không ngừng nghỉ. Có lẽ chỉ trừ những ngày lăng Bác đóng cửa, còn lại không có ngày nào là vắng bóng dòng người đến thăm.  Tràng hoa ở đây vừa là hình ảnh thực, vừa là hình ảnh ẩn dụ để nói đến những thành tích, công lao của người dân Việt Nam. Ở đây chữ “dâng” đã thể hiện được tình cảm của người dân Việt Nam. Dâng lên Người những gì tươi đẹp nhất với tấm lòng thành kính nhất. Tuy nhiên, nhà thơ không nói thẳng là dâng lên Bác mà là dâng lên “bảy mươi chín mùa xuân”. Đây là hình ảnh hoán dụ thể hiện sự tinh tế trong việc lựa chọn từ ngữ. Bảy mươi chín mùa xuân là số tuổi của Bác ở trên dương thế. Bác đã có bảy mươi chín mùa xuân cống hiến cho đất nước.

Bác đã đi rồi nhưng trong lòng người Việt Nam Bác vẫn luôn sống mãi. Bác nằm ở trong lăng mà như đang ngủ:

Bác nằm trong giấc ngủ bình yên

Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

Mà sao nghe nhói ở trong tim

Bác nằm đấy mà như đang ngủ, một tư thế đầy thanh thản. Người dân Việt Nam đã tự nhủ lòng mình như vậy nhưng cũng không ngăn được cái suy nghĩ thực tế là Bác đã vĩnh viễn ra đi và chúng ta không còn có Bác ở bên cạnh nữa. Vậy nên khi nghĩ đến, trong lòng không khỏi nhói đau. Chỉ một từ “nhói” thôi mà nhà thơ đã cho chúng ta thấy một niềm tiếc thương vô hạn, tiếc thương đến cực độ.

Rời lăng Bác, nhà thơ không giấu được nỗi niềm xúc động của mình:

Mai về miền Nam thương trào nước mắt

Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác

Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây

Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này

Mong muốn của nhà thơ thật giản dị. Điệp từ “muốn làm” cho thấy nỗi niềm khát khao của tác giả, thể hiện sự lưu luyến của tác giả. Nhà thơ không muốn rời đi vì không muốn phải xa Bác. Muốn được làm con chim, làm đóa hoa hay làm một cây tre thôi cũng được. Dù nhỏ bé, bình dị nhưng ngày ngày được hót, được tỏa hương và được trung hiếu nơi lăng Bác. Có điều gì hạnh phúc hơn như thế?

Nội dung bài thơ không có câu nào viết về công ơn của Bác nhưng tình cảm mà tác giả gửi gắm qua thơ đủ cho chúng ta thấy được công ơn của Người lớn lao thế nào. Bài thơ khiến người đọc xúc động vì sự chân thành và khiến cho lòng người dậy lên một nỗi khát khao đó được hòa vào dòng người vào lăng viếng Bác mỗi ngày.

phan tich bai tho vieng lang bac lop 9 2 - Top 10 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác lớp 9 chọn lọc

Bài văn hay phân tích bài thơ Viếng lăng Bác lớp 9

Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác lớp 9 – Bài làm 2

Sau ngày Bác Hồ “đi xa”, bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương là một trong những bài thơ viết về Bác đặc sắc nhất. Bài thơ diễn tả niềm kính yêu, sự xót thương và lòng biết ơn vô hạn của nhà thơ đối với lãnh tụ bằng một ngôn ngữ tinh tế, giàu cảm xúc sâu lắng. Nó đã được phổ nhạc, lưu truyền sâu rộng trong nhân dân. Câu thơ mở đầu cho thấy xuất xứ của bài thơ:

Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

Từ chiến trường miền Nam, nhà thơ Viễn Phương mang theo bao tình cảm thắm thiết của đồng bào và chiến ra viếng lăng Bác Hồ kính yêu. Đây là cuộc hành hương của người chiến sĩ. Từ xa, nhà thơ đã nhìn thấy hàng tre ẩn hiện trong sương khói trên quảng trường Ba Đình lịch sử. Màn sương trong câu thơ gợi lên một không khí thiêng liêng, huyền thoại. Cây tre, hàng tre “đứng thẳng hàng” trong làn sương mỏng, ẩn hiện thấp thoáng, mang màu sắc xanh xanh. “Hàng tre xanh xanh” vô cùng thân thuộc được nhân hóa, trải qua “bão táp mưa sa “vẫn “đứng thẳng hàng” như dáng đứng của con người Việt Nam kiên cường, bất khuất trong bốn nghìn năm lịch sử:

Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác, 

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát,

Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam,

Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng.

“Ôi!” là từ cảm, biểu thị niềm xúc động tự hào. Hình ảnh hàng tre xanh mang tính chất tượng trưng, giàu ý nghĩa liên tưởng sâu sắc. Tre mang phẩm chất cao quý của con người Việt Nam: “mộc mạc, thanh cao, ngay thẳng, bất khuất…” (Thép Mới). Có nhà thơ đã viết:

… Bão bùng thân bọc lấy thân,           

Tay ôm, tay níu, tre gần nhau thêm

Thương nhau tre chẳng ở riêng

Lũy thành từ đó mà nên hỡi người…

(Tre Việt Nam – Nguyễn Duy)

Miêu tả cảnh quan (phía ngoài) lăng Bác, nhà thơ tạo nên những suy nghĩ sâu sắc về phẩm chất tốt đẹp của nhân dân ta. Khổ thơ tiếp theo nói về Bác. Bác là người con ưu tú của dân tộc, là “tinh hoa và khí phách của nhân dân Việt Nam (Phạm Văn Đồng).

Hai câu thơ sóng nhau, hô ứng nhau với hai hình ảnh mặt trời. Một mặt trời thiên nhiên, rực rỡ, vĩnh hằng “Ngày ngày… đi qua trên lăng”, và “Một mặt trời trong lăng rất đỏ”- hình ảnh Bác Hồ vĩ đại. Màu sắc “rất đỏ”  làm cho câu thơ có hình ảnh đẹp gây ấn tượng sâu xa hơn, nói lên tư tưởng cách mạng và lòng yêu nước nồng nàn của Bác:

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.

Hòa nhập vào “dòng người” đến lăng viếng Bác, nhà thơ xúc động bồi hồi…Thành kính và nghiêm trang. Dòng người đông đúc, chẳng khác nào một “tràng hoa” muôn sắc ngàn hương từ mọi miền đất nước đến Ba Đình lịch sử viếng lăng Bác. Hình ảnh ẩn dụ “tràng hoa” diễn tả tấm lòng biết ơn, sự thành kính của nhân dân đối với Bác Hồ vĩ đại:

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân.

Chữ “dâng” chứa đựng bao tình cảm, bao tình nghĩa. Nhà thơ không nói “bảy chín tuổi” mà nói: bảy mươi chín mùa xuân, một cách nói rất thơ: cuộc đời Bác đẹp như những mùa xuân. Qua đó, ta thấy nghệ thuật lựa chọn ngôn từ của Viễn Phương rất tinh tế, biểu cảm và hình tượng.

Khổ thơ thứ ba nói về sự vĩnh hằng bất diệt của Bác. Bác như đang nằm ngủ một giấc ngủ “bình yên”, trong một khung cảnh thơ mộng. Bác vốn yêu trăng. Thời kháng chiến, giữa núi rừng chiến khu Việt Bắc, Bác đã từng có những khoảnh khắc sống rất thần tiên:

Việc quân, việc nước bàn xong,

Gối khuya ngon giấc bên song trăng nhòm.

Giờ đây, nhà thơ cảm thấy “Bác yên ngủ” một cách thanh thản “giữa một vầng trăng dịu hiền ”. Nhìn “Bác ngủ “, nhà thơ đau đớn, xúc động. Câu thơ “mà sao nghe nhói ở trong tim “diễn tả sự đau đớn, tiếc thương đến cực độ. Viễn Phương có một lối viết hàm súc, đầy thi vị; câu chữ để lại nhiều ám ảnh trong lòng người đọc.

Khổ thơ cuối nói lên cảm xúc của nhà thơ khi ra về. Biết bao lưu luyến, buồn thương. Nhà thơ muốn hóa thân làm “con chim hót”, làm “đóa hoa tỏa hương”, làm”cây tre trung hiếu” để được đền ơn đáp nghĩa Người. Ý thơ sâu lắng, hình ảnh thơ đẹp và độc đáo, cách biểu hiện cảm xúc “rất Nam Bộ”. Đây là những câu thơ trội nhất trong bài Viếng lăng Bác.

Mai về miền Nam thương trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này. Điệp ngữ “muốn làm…” được láy lại ba lần gợi tả cảm xúc thiết tha, nồng hậu của nhà thơ miền Nam đối với lãnh tụ.

Viếng lăng Bác, bài thơ ngắn mà ý thơ, hình tượng thơ, cảm xúc thơ sâu lắng, hàm súc và đẹp. Viễn Phương đã chọn thể thơ mỗi câu tám từ, mỗi khổ bốn câu, toàn bài bốn khổ – một sự cân đối hài hòa để biểu hiện một giọng điệu thơ nghiêm trang, kính cẩn.

Bài thơ là tấm lòng yêu thương, kính trọng và biết ơn Bác. Tâm tình của nhà thơ, của mỗi người Việt Nam và của cả dân tộc. Đó là giá trị lớn lao của bài thơ Viếng lăng Bác.

Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác lớp 9 – Bài làm 3

“Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà

Miền Nam mong Bác nỗi mong cha”

Nỗi mong chờ và ao ước của đồng bào đã được Bác đưa vào thăm không còn nữa! Người đã ra đi mãi mãi để lại bao niềm nuối tiếc trong lòng mỗi người dân Nam Bộ. Viễn Phương – nhà thơ trẻ miền nam – được vinh dự ra thăm lăng Bác. Tác giả đã thay mặt nhân dân miền nam bảy tỏ tình cảm của mình khi đứng trước người cha già dân tộc, Xúc động đến tận đáy lòng, Viễn Phương viết bài “Viếng lăng Bác”. Đây là bài thơ đầu tiên gợi cho em niềm xảm xúc sâu xa nhất.

Cảm xúc đầu tiên ta cảm nhận được tù bài thơ có lẽ vì bài thơ thể hiện được tình cảm chân thành và giản dị của đồng bào Nam bộ muốn nhắn gửi, nhờ Viễn Phương nói hộ nỗi trong chờ và mong đọi Bác vào tham.

Xúc dộng nghẹn ngào, mở đầu bài thơ, tác giả viết:

“Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

Ôi hàng tre! Xanh xanh Việt nam”

Tình cảm nhà tho rất chân thành và cũng rất gần gũi. Đối vói người chiến sĩ miền Nam được ra thăm lăng Bác là một điều rất vinh dự. Chính vì thế tình yêu thương của tác giả đối với Bác rất chân thành. Câu thơ rất ấm áp tình người với cách xưng hô thân mật “con”. Bởi tất cả mọi người đều là những người con trung hiếu của Bác. Tác giả khéo léo chọn hình ảnh cây tre, tạo nên hình ảnh thân thuộc của đất nước để mở rộng bài thơ hơn. Nhắc đến hình ảnh cây tre, ta lại nghĩ tói đất nước, tói dân tộc Việt với bao đức tính cao quý: bất khuất, kiên cường,đầy ý chí mạnh mẽ.

Theo đoàn người, tác giả vào thăm lăng Bác, nhà thơ nhìn thấy:

“Ngày ngày mặt tròi đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”

“mặt trời” ngày ngày đi qua trên lăng là mặt trời của thiên nhiên, nguồn sáng lớn nhất, rực rỡ. nhưng mặt trời trong lăng còn nhận ra một mặt trời khác “rất đỏ”. Một hình ảnh nhân hóa chan chứa biết bao sự đáng kính đối với Bác Hồ vĩ đại. bằng hình ảnh ẩn dụ, nhà thơ đã ví Bác là “mặt trời”, Người là mặt trời rực đỏ màu cách mạng sẽ mãi mãi chiếu sáng đường chúng ta đi bằng sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Người. đây là nét nghệ thuật sáng tạo của tác giả. Độc đáo nhà thơ còn sáng tạo một hình ảnh khác để gợi ra Bác:

“Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Kết tràng hoa dâng bẩy mươi chín mùa xuân”

Hình ảnh nhũng dòng người đi trong thương nhớ, kết những tràng hoa không chỉ là hình ảnh tả thực so sánh những người xếp hàng dài vào lăng trông như những tràng hoa vô tận. nó còn có ý nghĩa tượng trưng: cuộc đòi của họ đã nỏ hoa dưới ánh sáng Bác. Những bông hoa tươi thắm đó đang đến nhũng gì tốt đẹp nhất. “dâng bảy mươi chín màu xuân”, hay chính là hình ảnh hoán dụ về con người đã sống bảy mươi chín đời người sống ngập tràn niềm hân hoan như ngày xuân. Ánh sáng nơi Bác được nhà thơ miêu tả như một vầng trăng hiền dịu:

“Bác nằm trong giấc ngủ bình yên

Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

Mà sao nghe nhói ở trong tim”

Ánh sáng của những ngọn đèn mờ ảo trong lăng gợi nhà thơ liên tưởng thật thú vị “ánh trăng”. Tác giả đã thể hiện sự am hiểu của mình về Bác qua sự liên tưởng kì lạ đó. Bởi trăng với Bác đã từng vào thơ Bác trong nhà lao, trên chiến trận, giờ đây trăng cũng đến dỗ giấc ngủ ngàn thu cho Người. Với hình ảnh “vầng trăng sáng dịu hiền” nhà thơ còn muốn tạo ra một hệ thống hình ảnh vũ trụ để ví vói Bác. Bác của chúng ta là vậy. “mặt tròi”, “vầng trăng”, “trời xanh” đó là những cái mênh mông bao la của vũ trụ được nhà thơ ví như cái bao la rộng lớn trong tình thương của Bác. Đó cũng là biều hiện cho sự vĩ đại, rực rỡ của con người với sự nghiệp của Bác. Biết rằng Bác vẫn sống mãi trong sự nghiệp cách mạng và tâm trí nhân dân như bầu trời xanh vĩnh viễn trên cao. Nhưng nhà thơ vẫn không khỏi thấy đau nhói trong lòng khi đứng trước thi thể Người. “Mà sao nghe nhói ở trong tim”. Nỗi đau như hàng ngàn mũi kim đâm vào trái tim thổn thức của tác giả. Đó là sụ rung cảm chân thành của nhà thơ.

Đứng trong lăng bác, nhưng khi nghĩ đến lúc phải xa Bác, Viễn Phương thấy bịn rịn không muốn dứt. Tình cảm của nhà thơ tron suốt thời gian trên luôn sâu lắng, đau lặng lẽ nhưng đến giây phút này, Viễn Phương không thể nào ngăn được nữa, để cho tình cảm theo dòng nước mắt tuôn trào, dâng lên cao và tha thiết nhất “mai về miền nam thương trào nước mắt”. Chỉ nghĩ đến việc về miền nam, tác giả cũng “tuôn trào nước mắt” luyến tiếc khi chia tay bịn rịn không muốn xa nơi Bác an nghỉ. ở câu thơ này tác giả không sử dụng nghệ thuật nào, chỉ là lời nói giản dị, là tình thương sâu lắng tự tấm lòng nhưng lịa làm cho ta xúc động, bài thơ như người dân nam Bộ, nhưng lại lắng trong đó nỗi thương yêu đau đớn không có gì tả được. Tác giả thay mặt cho nhân dân miền nam bày tỏ niềm tiếc thương vô hạn với vị cha già dân tộc. Câu nói giản dị ấy làm người đọc thêm hiểu và đồng cảm với cảm xúc Viễn Phương, bởi lới nói đó đều xuất phát từ muôn triệu trái tim bé nhỏ cùng chung nỗi đâu không khác gì tác giả. Được gần bác dù chỉ trong phút giây nhưng không bao giờ tác giả muốn xa bác vì Người ấm áp, rộng lớn quá. Ước nguyện thành kính của tác giả cũng là mong ước nguyện chung của nhưng người đã hoặc chua một lần gặp Bác.

“Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác

Muốn làm đóa hoa tỏa ngát hương đâu đây

Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”

Điệp ngữ “muốn làm” lặp lại nhiều lần trong đoạn thơ thể hiện ước muốn của tác giả. Hình ảnh cây tre lại xuất hiện khép bài thơ một cách khéo léo. Mộ mong ước chân thành của nhà thơ. Tác gỉa muốn làm con chim hàng ngàn ca hót cho Bác yên ngủ, làm hoa tỏa hương thơm ngào ngạt, cùng muốn đóa hoa khác làm đẹp cho noi bác yên nghỉ. Và vui sướng nhất khi làm cây tre trung hiếu đứng mãi bên Bác canh trừng cho giấc ngủ Người. cánh hoa ấy, tiếng chim ấy, cây tre ấy giữ mãi cho Người giấc ngủ yên bình. Viễn Phương nói lên mong ước cũng như ước nguyện tát cả chúng ta muốn gần Bác để lớn lên một chút

“Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta

Ta bỗng lớn ở bên Người một chút”

Bác của chúng ta là vậy. Người giàu tình thương yêu, giàu đức hi sinh và đời Người vô vùng giản dị. Đất nước ta mất bác như mất người cha vĩ đại, người cha luôn dành cho nhân loại tình thương vô bờ bến.

Xem thêm:  Top 10 bài văn mẫu Thuyết minh về loài cây em yêu lớp 9: cây bàng, cây phượng chọn lọc

Bài thơ thật giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, mấy cai đọc bài thơ không thấy rung động trong lòng. Bằng cách sử dụng điêu luyện những biến pháp tu từ một cách sáng tạo, tác giả đã thể hiện tình cảm đằm thắm lại rất giản dị chân thành đối vói Bác. Nhà thơ truyền được cảm xúc của mình đến người đọc chính bở cảm xúc của tác giả cũng là cảm xúc của đồng bào nam bộ nói riêng, của dân tộc nói chung.

Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác lớp 9 – Bài làm 4

Viễn Phương là cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng ở miền Nam thời kì kháng chiến chống Mĩ. Đề tài trong thơ ông viết về vị lãnh tụ vĩ đại. Bài thơ “ Viếng lăng Bác” được sáng tác năm 1976 khi đất nước thống nhất, lăng Bác được khánh thành và tác giả được vào thăm lăng Bác. Bài thơ là cảm xúc của nhà thơ khi đứng trước lăng bác, khi vào trong lung Bác và những cảm xúc dâng trào cùng những ước nguyện khi ra về.

Thơ của Viễn Phương có một giọng điệu nhẹ nhàng giàu cảm xúc. Giọng điệu ấy được thể hiện rõ ràng ngay ở lời xưng hô:

“Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam

Bão táp Mưa sa đứng thẳng hàng”

Mở đầu là lời xưng hô con-Bác thật thân mật gần gũi như người thân trong gia đình, giữa cha với con.Lời xưng hô ấy là lời chào giới thiệu đứa con ở miền Nam ra thăm lăng Bác. Cách nói giảm nói tránh “ thăm lăng Bác” dường như trong lòng Viễn Phương Bác vẫn còn sống mãi để giờ đây người con xa xôi ra thăm cha. Đến với lăng Bác nhà thơ bắt gặp hình ảnh hàng tre trong sương xanh ngát bốn mùa. Hàng tre ấy được trồng quanh lăng Bác gợi trong lòng cảm giác quen thuộc trở về với quê hương. Cây tre là loài cây bé nhỏ dẻo dai không chịu khuất phục bão táp mưa sa. Ngắm nhìn hàng tre mà nhà thơ không khỏi bồi hồi xúc động “Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam”. Dòng cảm xúc trào dâng được thể hiện bằng từ “ôi” cùng nghệ thuật ẩn dụ hàng tre xanh xanh tượng trưng cho cả dân tộc Việt Nam đang hội tụ quay quần bên lăng Bác.

Không chỉ nhìn thấy hàng tre mà Viễn Phương còn nhìn thấy hình ảnh mặt trời:

“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân.”

Điệp từ “ngày ngày” chỉ thời gian đều đặn như một vòng quay ngày nào mặt trời của thiên nhiên đem nguồn sáng đến trái đất. Mặt trời ấy cũng đi qua trên lăng sưởi ấm nơi Bác yên nghỉ. Ngắm nhìn mặt trời của thiên nhiên mà nhà thơ liên tưởng đến “mặt trời trong lăng” hình ảnh ẩn dụ chỉ Bác Hồ là nhà thơ muốn ca ngợi công lao to lớn của Bác với đất nước, với dân tộc. Có thể nói Bác đã cống hiến cả cuộc đời cho dân tộc đánh dấu bằng bảy mươi chín mùa xuân. Chính vì thế dù đã đi xa nhưng mọi người vẫn nhớ về Bác ngày nào cũng như ngày nào những người con từ khắp mọi miền tổ quốc với những bộ trang phục đẹp chậm dãi tiến về phía lăng Bác giống như một “tràng hoa” nghệ thuật ẩn dụ dòng người với không khí trang nghiêm thành kính đều hướng về phía lăng Bác với lòng thành kính biết ơn.

Có thể nói người con ở miền Nam xa xôi gặp người cha kính yêu là một khát khao “Miền Nam mong Bác nỗi mong cha” và giờ đây niềm khao khát đã trở thành hiện thực. Bước chân vào lăng dòng cảm xúc nhà thơ lại trào dâng khi thấy hình ảnh:

“Bác nằm trong giấc ngủ bình yên

Giữa vầng trăng sáng dịu hiền

Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

Mà sao nghe nhói ở trong tim.”

Không khí trong lăng thật yên tĩnh với hình ảnh Bác nằm với tư thế thanh thản và đang trong giấc ngủ bình yên. Cách nói giảm nói tránh trong tâm tưởng nhà thơ Bác vẫn còn sống mãi. Ngắm nhìn Bác mà nhà thơ lại xúc động khi nghĩ đến những năm tháng đất nước còn chiến tranh Bác có nhiều đêm không ngủ “Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.” Giờ đây đất nước thống nhất Bác mới có giấc ngủ bình yên. Người nằm đó mà xung quanh là ánh sáng trong trẻo của vầng trăng. Vầng trăng trên trời cao kia cũng đi vào trong lăng soi sáng nơi Người yên nghỉ. Dường như giữa người và thiên nhiên bao giờ cung có sự giao hòa trăng đã trở thành đề tài trong thơ Bác và trở thành người bạn tri kỉ. Hay vầng trăng kia là chỉ Bác người có tâm hồn trong sáng thanh cao. Cách biểu đạt nghệ thuật ẩn dụ “trời xanh” ví Bác như bầu trời cao rộng mà nhà thơ muốn ngợi ca sự vĩ đại trường tồn vĩnh cửu của người như hóa thân vào non sông đất nước sánh ngang cùng trời đất sống mãi trong lòng người. Cặp từ “Vẫn biết- mà sao” lí trí tâm tưởng luôn khẳng định Bác vẫn còn sống nhưng trở lại hiện thực người đã đi xa một tổn thất lớn của dân tộc. Người mãi mãi đi làm cho lòng người đau nhói nỗi đau quặn thắt không nói lên lời.

Chính vì vậy mà khi chân còn ở trên đất Bác nghĩ đến ngày mai trở về nhà thơ cảm thấy buồn, xúc động lưu luyến không muốn xa rời. Dòng cảm xúc ấy rất tự nhiên, chân thành tuôn trào thành giọt nước mắt để rồi nhà thơ bày tỏ những ước nguyện:

“Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác

Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây

Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này…”

Viễn Phương muốn làm con chim để dâng tiếng hót hay nhất của mình nơi lăng Bác, muốn làm bông hoa để khoe hương khoe sắc làm đẹp nơi Bác yên nghỉ, muốn làm cây tre để đứng canh cho giấc ngủ của Người. Nghệ thuật ẩn dụ con chim, nhành hoa, cây tre chỉ nhà thơ Viễn Phương người muôn hóa thân vào những gì nhỏ bé nhưng đẹp đẽ để được gần gũi nơi Bác yên nghỉ. Điệp ngữ “muốn làm” điệp cấu trúc điệp cách phô diễn càng làm cho những ước nguyện chân thành tha thiết. Hình ảnh cây tre trung hiếu còn là lời thề thiêng liêng nguyện trung thành với lí tưởng của người. Hình ảnh cây tre kết thúc ở cuối bài tạo cách kết thúc đầu cuối tương ứng.

Bài thơ kết cấu của thể thơ tám chữ, từ ngữ hay, giàu cảm xúc, hình ảnh đẹp “mặt trời, vầng trăng,…” cách biểu đạt của nghệ thuật ẩn dụ cùng với giọng điệu nhẹ nhàng trang nghiêm thành kính đã diễn tả cảm xúc của nhà thơ khi đứng trước lăng bác, vào trong lăng Bác và lúc ra về. Đó là tâm trạng của tất cả mọi người khi đến nơi đây. Và với những bài thơ của Tố Hữu hay “Đêm nay Bác không ngủ” của Minh Huệ, “Người đi tìm hình của nước” của Chế Lan Viên các tác giả không chỉ đóng góp những bài thơ hay viết về Bác Hồ mà còn muốn ca ngợi về Người bằng tình cảm xuất phát từ tận đáy lòng, bằng tình yêu quý tự hào và biết ơn.

Bài thơ đã cho thấy tình cảm của Viễn Phương nói riêng và cả của dân tộc nói chung dành cho Bác. Qua đó em rất yêu quý và tự hào về Bác em hứa sẽ cố gắng học tập, thực hiện tốt năm điều Bác Hồ dạy để trở thành người công dân tốt.

Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác lớp 9 – Bài làm 5

Mỗi tác giả đều có những xúc cảm riêng khi viết về Hồ Chí Minh, là xót xa, nuối tiếc, tự hào, ngưỡng mộ cho một đời người vì dân, vì nước. Nhà thơ Viễn Phương lần đầu tiên từ miền Nam ra thăm lăng Bác cũng đã giật mình nhận ra có những thay đổi trong chính cảm xúc của mình khi nhìn thấy Bác đang ngủ yên lành. Bài thơ “Viếng lăng Bác” là long thành kính, ngưỡng mộ, biết ơn của nhà thơ dành cho vị lãnh tụ vĩ đại.

Năm 1976, đất nước thống nhất, lăng chủ tịch Hồ CHí Minh được khánh thành; tác giả theo đoàn từ Nam ra viếng lăng Bác. Cảm xúc của một người con lần đầu tiên ra thăm lăng Bác thực sự dồn nén trong trái tim của tác giả. Bài thơ như một lời tri ân, long thành kính của một đứa con phương xa được trở về thăm người. Có lẽ những câu thơ này như nói hộ tấm long của rất nhiều người, rất nhiều con dân Việt Nam được ra thăm lăng Bác.

Xuyên suốt bài thơ chính là mạch cảm xúc rung rung, xúc động, không kìm nổi long mình khi đứng trước một người anh hùng dân tộc. Bài thơ được mở đầu như một tiếng reo vui:

Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam

Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng

Một tiếng reo vui nhẹ nhàng, một tiếng “con” chân thành và sâu sắc của một người con từ phương xa. Câu thơ trở nên mềm mại, cuốn hút, chan chứa tình cảm. Một hành trình từ miền Nam ra tận miền Bắc để chỉ được nhìn ngắm Hồ CHí Minh một lần. Mặc dù Bác Hồ đã không còn nữa nhưng nhà thơ không dung từ “viếng” mà lại dùng từ “thăm” rất nhẹ nhàng, tình cảm. Điều này cho thấy rằng mặc dù Hồ CHí Minh là vị lãnh tụ nhưng lại rất gần gũi, thân thiết với nhân dân. Người đọc cảm nhận được rằng dường như Bác Hồ vẫn còn sống mãi, chỉ là Bác đang ngủ một giấc ngủ thật lâu,thật dài.

Khung cảnh hiện ra trước mắt khi nhà thơ đến đây là hàng tre “bát ngát”. Tre là hình ảnh thân thuộc, gần gũi với đất nước Việt Nam,biểu tượng cho sự dẻo dai, kiên cường, tinh thần không khuất phục của cả dân tộc ta. Mặc dù bão táp mưa sa nhưng hàng tre vẫn kiên cường, hiên ngang và bất khuất như chính tinh thần quật cường của dân tộc ta.

Viễn Phương mang một trái tim yêu thương và ngưỡng mộ với chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông đã mượn hình ảnh “mặt trời” biểu tượng cho Bác Hồ vĩ đại, luôn sống mãi với đất nước.

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

Rõ ràng hình ảnh “mặt trời” ở hai câu thơ hoàn toàn có ý nghĩa khác nhau. Một mặt trời thực cử thiên nhiên, một mặt trời mang giá trị ẩn dụ, tượng trưng cho người cha già dân tộc. Phép ẩn dụ này đã làm tăng lên tính biểu cảm, phần nào làm sắc nét hơn tình cảm thương yê, trân trọng mà Viễn Phương dành cho người. Mặt trời luôn tồn tại để soi sáng nhân gian cũng như Hô Chí Minh còn sống mãi trong lòng dân.

Hòa vào dòng người viếng thăm Bác, Viễn Phương xúc động nghẹn ngào:

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Đời người hữu hạn, thời gian vô hạn. Sự ra đi của Người để lại muôn vàn tiếc thương cho dân tộc. Niềm thương nhớ ấy kết thành nhưng “tràng hoa” dâng Người. “Bảy mươi chín mùa xuân” chính là bảy mươi chín năm Người sống và cống hiến cho dân tộc. Hồ Chí Minh chính là mùa xuân lớn của đất nước ta, cho những kiếp người lầm than trong xã hội.

Tác giả được nhìn ngắm Bác Hồ, có một niềm xúc động sâu sắc:

Bác nằm trong lăng giấc ngủ bình yên

Giữa một vầng trăng sáng trong dịu hiền

Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

Mà sao nghe nhói ở trong tim

Bác vẫn nằm đây, giữa thủ đô đầy nắng, giữa hàng triệu trái tim của dân tộc đang hướng về Người. Nét “dịu hiền” trên khuôn mặt người chính là tượng trưng cho những gì cao đẹp, thanh khiết nhất của một cuộc đời. Dù nỗi đau còn đó, mất mát còn đó nhưng đất nước luôn nhớ đến người.

Có lẽ khổ thơ cuối cùng người đọc sẽ bần thần trước lời nguyện ước của Viễn Phương:

Mai về miền Nam thương trào nước mắt

Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác

Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây

Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này

Những vẫn thơ chân chất, bình dị này khiến cho người đọc “trào nước mắt”. Giây phút tác giả sắp rời xa Người trở về với miền Nam là giây phút ngưng lại nhiều cảm xúc nhất. Điệp từ “muốn” dường như nhấn mạnh hơn nữa khát khao, ước vọng của tác giả được ở cạnh Bác Hồ. Những ước muốn bình dị, mộc mạc nhưng chan chứa tình cảm.

Thật vậy, bài thơ “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương khiến người đọc không cầm được nước mắt vì tình cảm của một người con dành cho Bác. Qua đó thấy được vị trí của Bác Hồ trong lòng dân quan trọng như thế nào.

phan tich bai tho vieng lang bac lop 9 1 - Top 10 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác lớp 9 chọn lọc

Những bài văn mẫu phân tích bài thơ Viếng lăng Bác lớp 9

Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác lớp 9 – Bài làm 6

Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam – đã cống hiến trọn đời mình vì sự nghiệp giải phóng đất nước ta. Người ra đi năm 1969, để lại biết bao nỗi thương nhớ và xót xa cho Tổ quốc. Có nhiều nhà thơ đã viết bài thơ tưởng nhớ về Bác, và “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương là một trong những bài thơ xuất sắc nhất. Chúng ta hãy cùng đến với bài thơ để cảm nhận được cảm xúc ấy.

“Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”

Năm 1976, sau ngày đất nước ta được hoàn toàn giải phóng, lăng Bác được khánh thành. Nhà thơ Viễn Phương từ miền Nam đã ra thăm lăng Bác. Cảm xúc dâng trào, nhà thơ đã làm một bài thơ như một lời bộc bạch chân tình của hàng triệu người con miền Nam với Bác. Đây là một bài thơ đặc sắc, giàu ý nghĩa, làm cho người đọc xúc động.

Hai khổ thơ đầu là những dòng cảm xúc ban đầu của nhà thơ khi được lần đầu đến thăm lăng Bác: một chút tự hào, xen lẫn vui sướng, lẫn xúc động khi sắp đc kề cận bên Người cha thân yêu của dân tộc. Bằng những hình ảnh ẩn dụ giàu sức gợi, ngôn ngữ bình dị mà hàm súc, tinh tế, đoạn thơ đã để lại trong lòng người đọc những cảm xúc vô cùng sâu sắc.

Hai khổ cuối bài thơ như những nốt nhạc du dương, trầm bổng,réo rắt như tấm lòng tha thiết yêu mến của nhà thơ với Hồ Chủ Tịch. Bằng những ngôn từ ẩn dụ đặc sắc, từ ngữ bình dị mà giàu sức gợi, câu thơ đã khơi gợi trong lòng người đọc những rung động sâu sắc và đáng quý….

Bài thơ được phân chia theo bố cục thời gian, và khổ thơ đầu tiên nói về cảm xúc của tác giả khi nhìn thấy lăng Bác từ xa.

“Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác”

Câu thơ đầu tiên thật ngắn gọn nhưng nó lại là một lời tâm sự chân tình của nhà thơ cũng như hàng triệu người con miền Nam. Một tiếng “con” thật ấm áp, gần gũi, thể hiện lòng kính yêu to lớn đối với Bác. Bác thật gần gũi với người dân, như là một vị cha già của dân tộc. “Con ở miền Nam” – mấy tiếng ấy bao hàm một nỗi đau và một niềm tự hào. Miền Nam gian khổ và anh hùng, miền Nam đi trước về sau, miền Nam thành đồng Tổ quốc, miền Nam vừa chiến thắng kẻ thù hung bạo trở về trong đại gia đình Việt Nam đây Bác ơi! Nhà thơ mong nhìn thấy Bác một lần sau khi đất nước đã giải phóng nhưng thật đau xót, Bác đã không còn. Vì vậy, từ “viếng” đã được nhà thơ thay bằng từ “thăm” để giảm nhẹ nỗi đau cũng như bày tỏ niềm tin rằng Bác vẫn sống mãi.

“Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam

Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng”

Đập vào mắt nhà thơ là hình ảnh hàng tre xanh ngắt trước lăng Bác. Cây tre – biểu tượng cho sự bất khuất, kiên cường nhưng giản dị, thanh cao của người dân Việt Nam – đã để lại một dấu ấn đậm nét trong lòng tác giả trước khi bước vào lăng Bác. Hàng tre bát ngát – Hàng tre xanh xanh – Hàng tre Việt Nam: hàng tre bao đời như một dấu hịêu đặc biệt của dân tộc. Hàng tre trùm bóng mát rượi lên bao thế hệ cuộc đời, hàng tre mang bao phẩm chất của con người Tổ quốc ta: dẻo dai, đoàn kết, bất khuất, kiên cường. Ở Bác có tất cả những gì mà những con người Việt Nam từng có, cũng cái dấu hiệu xanh tươi sự sống ấy, cũng cái kiên cường “đứng thẳng hàng” trong “bão táp mưa sa” ấy. Dân tộc ta thật sự có sức sống mãnh liệt, cho dù những thử thách của thiên nhiên, của lịch sử có khắc nghiệt cách mấy thì vẫn kiên cường chống chọi, và vẫn cố gắng đứng thẳng chứ nhất quyết không chịu bị bẻ cong. Hàng tre đứng đó, bên lăng Bác như ru giấc ngủ ngàn thu của Bác, gắn bó mãi mãi với Bác như dân tộc Việt Nam vẫn kính trọng Bác mãi mãi.

Đến gần lăng Bác, xếp hàng vào viếng thì tác giả có thêm nhiều cảm xúc mới.

“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”

Hai câu thơ sinh động với nhiều hình ảnh gợi cảm được tạo nên từ những hình ảnh thực và hình ảnh ẩn dụ sóng đôi với nhau. Một mặt trời thực đi qua trên lăng, là mặt trời của tự nhiên, của muôn loài, soi sáng cho muôn loài, đem lại sức sống cho thế giới. Từ mặt trời thật ấy, một mặt trời ẩn dụ khác hiện ra trong lăng, rất đỏ. Bác nằm trong lăng với ánh sáng đỏ xung quanh như một mặt trời. Bác tồn tại vĩnh cửu trong lòng mỗi người dân Việt Nam như sự tồn tại của một mặt trời thật. Bác soi sáng đường cho dân tộc ta đi, cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp giành độc lập của Tổ quốc. Bác giúp nhân dân ta thoát khỏi kiếp sống nô lệ, trở thành một con người tự do để bây giờ được hạnh phúc. Công lao của Bác đối với dân tộc ta cũng như mặt trời, to lớn không kể xiết. Bác là một mặt trời. Cái ẩn dụ mặt trời ở đây không biết đã đủ nói về Bác chưa? Không, nếu nói Bác là mặt trời thì phải nhấn mạnh thêm cho rõ cái đặc tính của vầng mặt trời ấy: rất đỏ. Cái mặt trời đang tỏa sáng trên cao kia, cái mặt trời của thiên nhiên, tượng trưng của nguồn nóng, nguồn sáng, nguồn sự sống ấy, không phải bao giờ cũng nguyên vẹn thế đâu, không phải lúc nào cũng ấm nóng thế đâu! Vầng mặt trời ấy có thể bị bóng đêm lấn át. Nhưng vầng mặt trời Bác Hồ của ta thì mãi mãi đỏ thắm, mãi mãi là nguồn sưởi ấm, nguồn sáng soi đường cho con người Việt Nam. Hôm nay có hai mặt trời chiếu rọi trên đường đời: một mặt trời tỏa sáng trước mặt, một mặt trời tỏa sáng tâm hồn… Như mặt trời kia, Bác thuộc về vĩnh cửu. Bác sẽ sống mãi trong lòng mỗi con người Việt Nam.

“Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân…”

Cùng với mặt trời đi qua trên lăng, ngày ngày dòng người vẫn đi qua lăng trong thương nhớ. Điệp ngữ “ngày ngày” ý nói rằng nhân dân ta mãi luôn ghi nhớ công lao to lớn của Bác, mãi mãi là như vậy. Nhịp thơ của đoạn chậm, diễn tả đúng tâm trạng khi đứng xếp hàng trước lăng chờ đến lượt vào, ngậm ngùi tưởng nhớ đến Bác đã khuất. Tuy vậy, nhịp thơ chầm chậm như bước chân người đi trong cuộc tưởng niệm mà sao câu thơ vẫn không buồn? Phải rồi. Chúng ta không làm cái việc tưởng niệm bình thường với Bác như một người đã khuất. Dòng người đang đi đây là đang đi trong cuộc hành trình ngợi ca vinh quang của Bác. Và tràng hoa vinh quang này không phải được kết bằng những bông hoa bình thường như mọi tràng hoa vinh hiển khác trên đời đâu. Tràng hoa đây là một hình ảnh ẩn dụ của tác giả, đó chính là những đoá hoa thật sự của đời, là đàn con mà Bác đã cố công tạo nên suốt bảy mươi chín mùa xuân Bác sống trên đời. Những bông hoa trong vườn Bác nay đã lớn lên, nở rộ ngát hương kính dâng lên Bác.

Vào bên trong lăng Bác, thấy Bác đang nằm đó, nhà thơ lại một lần nữa cố giấu tiếng nấc nghẹn ngào:

Xem thêm:  Top 10 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Bếp lửa lớp 9 chọn lọc

“Bác nằm trong giấc ngủ bình yên

Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền”

Khung cảnh bên trong lăng thật êm dịu, thanh bình. Lúc này, trước mặt mọi người chỉ có hình ảnh Bác. Bác nằm đó trong giấc ngủ vĩnh hằng. Bác mất thật rồi sao? Không đâu. Bác chỉ nằm đó ngủ thôi, Bác chỉ ngủ thôi mà! Suốt bảy mươi chín năm cống hiến cho đất nước, bây giờ đất nước đã bình yên, Bác phải được nghỉ ngơi chứ. Bao quanh giấc ngủ của Bác là một “vầng trăng sáng dịu hiền”. Đó là hình ảnh ẩn dụ cho những năm tháng làm việc của Bác, lúc nào cũng có vầng trăng bên cạnh bầu bạn. Từ giữa chốn tù đày, đến “cảnh khuya” núi rừng Việt Bắc, rồi “nguyên tiêu”… Tuy vậy, Bác chưa bao giờ thảnh thơi để ngắm trăng đúng nghĩa. Khi thì “trong tù không rựơu cũng không hoa”, khi thì “việc quân đang bận”. Chỉ có bây giờ, trong giấc ngủ yên, vầng trăng ấy mới thật sự là vầng trăng yên bình, để Bác nghỉ ngơi và ngắm. Trăng dịu hiền, soi sáng hình ảnh Bác. Nhìn Bác ngủ ở đấy thật bình yên, nhưng có một sự thật dù đau lòng cách mấy ta vẫn phải chấp nhận: Bác đã thật sự ra đi mãi mãi.

“Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

Mà sao nghe nhói ở trong tim!”

Trời xanh bao la kia kéo dài đến vô tận, không bao giờ chấm dứt. Dù lí trí vẫn luôn trấn an lòng mình rằng Bác vẫn sống đấy, vẫn còn dõi theo Tổ quốc mãi mãi như màu xanh thanh bình trên nền trời Tổ quốc độc lập nhưng con tim ta vẫn nhói đau vì một sự thật đau lòng. Một từ “nhói” của nhà thơ nói hộ ta nỗi đau đớn, nỗi đau vượt lên mọi lí lẽ, mọi lập luận lí trí. Bác như trời xanh, Bác là mãi mãi, Bác vẫn sống trong tâm tưởng mỗi chúng ta, Bác mãi hiện diện trên mỗi phần đất, mỗi thành quả, mỗi phần tử tạo nên đất nước này. Nhưng mà Bác mất thật rồi, ta không còn có Bác trong cuộc đời thường này. Mất Bác, cái thiếu vắng ấy liệu có thể nào bù đắp được? Tổ quốc ta đã thật sự không còn Bác dõi theo từng bước chân, không còn được Bác nâng đỡ mỗi khi vấp ngã. Bác ra đi, nỗi đau ấy liệu có từ ngữ nào diễn tả hết? Cả đàn con Việt Nam luôn tiếc thương Bác, luôn nhớ về Bác như một cái gì đó thật vĩ đại, không thể xoá nhoà. Dù Bác ra đi thật sự rồi nhưng những điều Bác đã làm vẫn sẽ đọng lại trong tâm hồn, hình ảnh Bác vẫn tồn tại trường kì trong trái tim mỗi người dân Việt Nam.

Cuối cùng dẫu thương tiếc Bác đến mấy, cũng đến lúc phải rời lăng Bác để ra về. Khổ thơ cuối như một lời từ biệt đầy xúc động:

“Mai về miền Nam thương trào nước mắt”

Ngày mai phải rời xa Bác rồi. Một tiếng “thương của miền Nam” lại vang lên, gợi về miền đất xa xôi của Tổ quốc, một nơi từng có vị trí sâu sắc trong trái tim người. Một tiếng “thương” ấy là yêu, là biết ơn, là kính trọng cuộc đời cao thượng, vĩ đại của Người. Đó là tiếng thương của nỗi đau xót khi mất Bác. Thương Bác lắm, nước mắt trào ra, thật đúng là tình thương của người Việt Nam, vô bờ bến và rất thật.

“Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác

Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây

Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”

Cùng với nỗi niềm yêu thương vô hạn, tác giả nói lên muôn vàn lời tự nguyện. Điệp ngữ “muốn làm” khẳng định mạnh mẽ những ước nguyện ấy. Ước chi ta có thể biến hình thành những gì thân yêu quanh nơi Bác ngủ để mãi mãi được chiêm ngưỡng Bác, cuộc đời và tâm hồn của Bác, để bày tỏ lòng ta với Bác. Một con chim nhỏ góp tiếng hót làm vui những bình minh của Bác, một đóa hoa góp mùi hương làm thơm không gian quanh Bác hay một cây tre trong hàng tre xanh xanh VN tỏa bóng mát dịu dàng quê hương của Bác, tất cả đều làm Bác vui và ngủ an giấc hơn. Đây cũng chính là nguyện ước chân thành, sâu sắc của hàng triệu con tim người Việt sau một lần ra thăm lăng Bác. Bác ơi! Bác hãy ngủ lại bình yên nhé, chúng cháu về miền Nam tiếp tục xây dựng Tổ quốc từ nền móng Bác đã tạo ra đây! Câu thơ trầm xuống để kết thùc, ngừng lặng hòan toàn…

Về nghệ thuật, bài thơ Viếng lăng Bác có nhiều điểm nghệ thuật rất đặc sắc, giúp biểu hiện thành công thêm về những giá trị nội dung. Bài thơ viết theo thể tám chữ, trong có có xen một vài câu bảy và chín chữ. Nhiều hình ảnh trong bài thơ lấy từ ngoài đời thực đã được ẩn dụ, trở thành một cách thể hiện cảm xúc thành kính của tác giả. Nhịp thơ của bài linh hoạt, lúc nhanh là biểu hiện cho ước nguyện đền đáp công ơn Bác, lúc chậm là lúc thể hiện lòng thành kính với Bác. Giọng điêu của bài trang trọng, tha thiết, ngôn ngữ thơ bình dị mà cô đúc.

Bằng những từ ngữ, lời lẽ chân thành, giàu cảm xúc, nhà thơ Viễn Phương đã bày tỏ được niềm xúc động cùng lòng biết ơn sâu sắc đến Bác trong một dịp ra miền Bắc viếng lăng Bác. Bài thơ như một tiếng nói chung của toàn thể nhân dân Việt Nam, biểu lộ niềm đau xót khi thấy Bác kính yêu ra đi. Qua bài thơ, tôi cảm thấy rằng đất nước ta có hoà bình như ngày hôm nay một phần lớn là nhờ công lao của Bác, như vậy chúng ta cần phải biết xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ta, để những công ơn to lớn của Bác không bị bỏ phí.

Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác lớp 9 – Bài làm 7

Viễn Phương là một trong những cây bút xuất hiện sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng miền Nam. Thơ ông thường có giọng nhỏ nhẹ, chứa chan tình cảm và giàu chất mơ mộng. Sau khi đất nước thống nhất một năm, tháng 4-1976, Viễn Phương có dịp cùng đồng bào, chiến sĩ từ miền Nam ra Hà Nội thăm lăng Bác Hồ. Dịp này, từ những cảm xúc rất chân thực, ông sáng tác bài thơ nổi tiếng “Viếng Lăng Bác”. Bài thơ đã làm rung động hàng triệu trái tim vì chứa đựng cảm xúc dạt dào, niềm thương nhớ khôn nguôi và lòng kính yêu vô hạn đối với Bác Hồ, vì nỗi niềm của nhà thơ đã bắt gặp nỗi niềm chung của nhiều người.

Năm 1976 sau khi cuộc kháng chiến chống Mĩ kết thúc thắng lợi, đất nước thống nhất, lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng vừa khánh thành, Viễn Phương ra thăm miền Bắc, vào lăng viếng Bác Hồ. Bài thơ này được sáng tác trong dịp đó và in trong tập thơ Như mây mùa xuân.

Dòng cảm xúc và tâm trạng của nhà thơ được diễn tả theo trình tự của cuộc viếng lăng Bác. Trong tâm tưởng của tác giả, Bác Hồ như đang sống, như thể Bác nhìn mọi người từ xa, nên tác giả thầm giới thiệu:

“Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác”

Câu thơ như chưa đựng một nỗi đau và một niềm tự hào. Tự hào “con ở miền Nam”, miền Nam gian khổ và anh hung, miền Nam thành đồng Tổ Quốc, miền Nam vừa chiến thắng vẻ vang… Nhớ lúc sinh thời Người nghĩ đến miền Nam, mong miền Nam được giải phóng. Nhà thơ Tố Hữu đã từng viết:

“Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà

Miền Nam mong Bác nỗi mong cha”.

Thế mà miền Nam không được đón Bác vào thăm ngày vui đại thắng. Nay thì Bác đã ra đi, nỗi đau mất Bác lấy gì bù đắp? Cho nên ngay từ đầu, giọng thơ nghe sao mà xót tủi. Đến với Bác, dù ngay giữa lòng Hà Nội, mà cảnh vật sao giản dị ,thân quen như trở về môt làng quê nào vậy:

“Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam

Bão tố mưa sa đứng thẳng hàng”

Không phải là đền đái tráng lệ, uy nghi mà chỉ là hàng tre giản dị quen thuộc, “hàng tre bát ngát”. Bát ngát của tre và bát ngát của sương , là những nét vẽ mờ tỏ, đậm nhạt, tạo nên vẻ đẹp lung linh như tranh thủy mặc, Từ hình tả thực ấy, tác giả liên tưởng khái quá nâng lên thành hình ảnh ẩn dụ “hàng tre xanh xanh Việt Nam”, một biểu tượng của dân tộc. Hai tiếng “xanh xanh”không chỉ gợi ý niệm về màu sác mà còn gợi lên sức sống bất diệt của dân tộc. Hàng tre ấy mang bao phẩm chất của con người Việt Nam: nhũn nhặn, thanh cao, dẻo dai, kiên cường, bất khuất,..dù “bão táp mưa sa” cũng “đứng thẳng hàng” . Dấu hiệu đầu tiên nơi Bác ở là một dấu hiệu Việt Nam vì Bác là con người Việt Nam đẹp nhất!

Nhà thơ hòa vào dòng ngừi xếp thành hàng, chầm chậm bước đi, chân bước mà lòng nghĩ

“Ngày ngày Mặt Trời đi qua trên lăng

Thấy một Mặt Trời trong lăng rất đỏ”

Mặt trời đi qua trên lăng Bác là Mặt Trời của tạo hóa, thiên nhiên đang tỏa ra ngàn tia nắng ấm. Còn mặt trời rất đỏ trong lăng là Bác Hồ vĩ đại. Bác được ví như vầng thái dương chói lọi, sưởi ấm cho muôn loài. Mặt trời ấy là tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng sáng ngời ấy như ánh mặt trời vĩnh hằng trên trái đất. Bởi vậy, Bác ra đi là sự mất mát lớn đối với đồng bào và chiến sĩ cả nước, mất mát lớn đối với toàn thể dân tộc ta. Bác để lại muôn vàn nhớ thương trong tâm khảm mỗi con người:

Không khí thương nhớ bao trùm theo nhịp thơ chầm chậm, âm điệu trầm trầm như bước chân người đi trong cuộc tưởng niệm. Nhưng không phải là cuộc tưởng niệm bình thường mà ca ngợi vinh quang của Bác. Và tràng hoa tưởng niệm cũng khôn phải bình thường mà nó được kêt bằng hàng triệu tấm lòng để dâng lên Bác dâng lên “bảy mươi chín mùa xuân”.

Ta lại theo chân nhà thơ vào lăng Bác. Đây là giây phút thiêng liêng và xúc động nhất vì được nhìn thấy:

Bác nằm trong giấc ngủ bình yên

Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền.

Với nỗi đau đớn, xúc động nghẹn ngào. Nhà thơ không muốn chấp nhận sự thật : Bác đã mất! Mà tưởng tượng “Bác chỉ “nằm trong giấc ngủ bình yên” sau một cuộc dời vất vả, hi sinh vì dân vì nước chưa hề được nghỉ ngơi. Giấc ngủ của Bác bình yên giữa một vùng ánh sáng nhè nhẹ “dịu hiền” được miêu tả như một “vầng trăng”. Con người tha thiết yêu trăng mà chưa bao giờ được bình yên để ngắm ấy bây giờ đã được yên nghĩ cùng trăng. Nhưng sự thật vẫn là sự thật, lý trí đã nhắc nhà thơ: Bác mất thật rồi! cho nên cảm xúc dâng trào đã bật thành lời:

“Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

Mà sao nghe nhói ở trong tim”

Ở đây có sự hòa quyện giữa hai cảm xúc: cảm xúc vè sự bất tử, trường tồn của Bác, cảm xúc về nỗi đau và nỗi nhớ Bác khôn nguôi. Bác là mãi mãi như bầu trời xanh bất diệt, vĩnh viễn ở trên đầu và ở trong tâm tưởng của mỗi người , vĩnh viễn với non sông đất nước. Nhưng Bác mất thật rồi, không còn thấy Bác trong cuộc đời này nữa. Cái thiếu vắng âuý lấy gì bù đắp được? tiếng “nhói” vút cao lên nói hộ ta bao nỗi đau đớn xót xa. Đó là niềm xót ca, làm rung cảm rất chân thật của bất cứ ai vào lăng viếng Bác.

Xót xa, lưu luyến mấy rồi cũng phải chia tay. Bác nằm lại với “giấc ngủ bình yên”, mỗi người lại phải chia xa:

“Mai về miền Nam thương trào nước mắt”

Câu thơ như vẻ tiếc nuối, nghẹn ngào, xót xa. Một tiếng “thương”, một hình ảnh “trào nước mắt” là trọn vẹn tình cảm của nhân dân miền Nam đối với Bác. Đó là niềm kính yêu, lòng kính trọng biết ơn đối với con người cao thượng và vĩ đại dành trọn cuộc đời mình cho dân cho nước. Đó là nỗi xót đau người đã để lại cho con cháu, đành phải giã biệt Bác. Thương Bác Bác nhưng không xa rời sự nghiệp mà người đã để lại cho con cháu, đành phải giã biệt Bác. Chân bước ra đi mà lòng còn lưu luyến. Nỗi niềm đó còn được diễn đạt trong mấy câu thơ giàu hình ảnh:

“Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác

Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây

Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”

Về cuối bài, nhịp điệu câu thơ trở nên dồn dập với điệp ngữ “muốn làm” nhắc lại đến ba lần nhấn mạnh ước nguyện sâu sắc, chân thành của tác giả. Và hàng loạt honfh ảnh ẩn dụ cụ thể hóa ước nguyện đó: con chim dâng tiếng hót vui, bông hoa dâng hương thơm ngát, cây tre trung hiếu canh giữ cho giấc ngủ yên bình của Bác. Tất cả đều bên lăng. Tất cả đều nói lên tấm lòng kính yêu vô hạn của tác giả và cũng là của nhân dân đối với Bác.

Bài thơ đã được cố nhạc sĩ Hoàng Hiệp phổ nhạc và trở thành bài hát được nhiều người yêu thích. Sở dĩ vậy bởi vì bài thơ đã giàu tính nhạc: giọng điệu thiết tha thầm lặng, trang nghiêm và thành kính, nhịp thơ chậm. qua đó nhà thơ bộc lộ cảm xúc tràn đầy , những tình cảm lớn lao thiêng liêng của mình và cũng là của nhân dân đối với Bác Hồ, đồng thời ca ngợi vinh quang của Bác. Tình cảm đối với Bác là tình cảm cao cả , nâng cao tâm hồn con người. với những giá trị đó, “Viếng lăng Bác” là một đóng góp quý báu vào kho tang thơ ca viết về Hồ Chủ tịch, vĩ lãnh tụ vĩ đại, kính yêu của dân tộc.

Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác lớp 9 – Bài làm 8

“Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà

Miền Nam mong Bác nỗi mong cha.”

Nỗi mong chờ và ao ước của đồng bào miền Nam được Bác vào thăm không còn nữa! Người đã ra đi mãi mãi để lại bao niềm nuối tiếc trong lòng mỗi người dân Nam Bộ, Viễn Phương – nhà thơ trẻ miền Nam – được vinh dự ra thăm lăng Bác. Tác giả đã thay mặt nhân dân miền Nam bày tỏ tình cảm của mình khi đứng trước người cha già dân tộc. Xúc dộng tận đáy lòng, Viễn Phương viết bài “Viếng lăng Bác”. Đây là bài thơ gợi cho em niềm cảm xúc sâu xa nhất.

Cảm xúc đầu tiên mà em cảm nhận được từ bài thơ có lẽ vì bài thơ thể hiện được tình cảm chân thành và giản dị của đồng bào Nam bộ muốn nhắn gửi, nhờ Viền Phương nói hộ cùng Bác nỗi mong chờ và mong đợi Bác vào thăm.

Xúc động dạt dào, mở đầu bài thơ, tác giả viết:

“Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

Ôi hàng tre! Xanh xanh Việt Nam”

Tình cảm của nhà thơ rất chân thành và cũng rất gần gũi. Đối với người chiến sĩ miền Nam được ra thăm lăng Bác là một điều rất vinh dự. Nhưng không vì thế mà giảm mất tình yêu thương của tác giả đối với Bác. Câu thơ ấm áp tình người với cách xưng hô thân mật “con”. Bởi tất cả mọi người đều là những người con trung hiếu của Bác, xem Bác như ‘là cha, là bác, là anh”. Tình người bao la, giản dị, tình dân tộc đằm thắm mến yêu. Đoạn thơ đã tạo nên một không khí ấm áp, gần gũi. Tác giả khéo léo chọn hình ảnh cây tre, hình ảnh thân thuộc của đất nước để mờ bài thơ rộng hơn. xa hơn nhưng cũng gần gũi hơn bao giờ hết. Nhắc đến hình ảnh cây tre, ta lại nghĩ tới dất nước, tới dân tộc Việt Nam với bao đức tính cao quí. Tre anh dũng trong chiến đấu, tre yêu thương giúp đỡ dân tộc, tre hi sinh cho thế hệ mai sau và tre cũng rất anh hùng bất khuất:

“Nòi tre đâu chịu mọc cong

Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường”

Tre đã vất vả, chịu nhiều nắng mưa nhưng vần hiên ngang đứng giữa trời xanh, như dân tộc ta không bao giờ khuất phục bọn giặc cướp nước “Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng”.

Theo đoàn người, tác giả vào thăm lăng Bác, nhà thơ nhìn thấy:

“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.”

“Mặt trời” ngày ngày đi qua trên lăng là mặt trời của đất, nguồn sáng lớn nhất, rực rỡ và vĩnh viễn trên thế gian. Nhưng mặt trời ấy còn thấy và nhận ra một mặt trời khác, một “‘mặt trời trong lăng” rất đỏ. Mặt trời trên cao được nhân hóa, nhìn mặt trời trong lăng bằng đôi mắt của mặt trời. Một hình ảnh chứa chan bao tôn kính đối với Bác Hồ vĩ đại. Bàng hình ảnh ẩn dụ, nhà thơ đã ví Bác là mặt trời. Người là mặt trời đỏ rực màu cách mạng sẽ mãi mãi chiếu sáng đường chúng ta đi bằng sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Người. Đây là nét nghệ thuật sáng tạo cùa tác giả. Độc đáo hơn, nhà thơ còn sáng tạo một hình ảnh khác nữa để ca ngợi Bác:

“Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân.”

Hình ảnh những dòng người đi trong thương nhớ kết thành những tràng hoa không chỉ là hình ảnh tả thực so sánh những dòng người xếp thành hàng dài vào lãng Bác trông như những tràng hoa vô tận. Nó còn có nghĩa tượng trưng: Cuộc dời của họ đã nở hoa dưới ánh sáng của Bác. Những bông hoa tươi thắm đó đang đến dâng lên Người những gì tốt đẹp nhất. “Dâng bẩy mươi chín mùa xuân”. Đây là hình ảnh hoán dụ mang ý nghĩa tượng trưng. Con người bảy mươi chín mùa xuân ấy đã sống một cuộc đời đẹp như những mùa xuân và đã làm ra những mùa xuân cho đất nước, cho con người. Nhà thơ vào lăng, được nhìn thấy Bác nằm trong giấc ngủ bình yên giữa một vùng ánh sáng nhè nhẹ dịu hiền. Ánh sáng ấy nơi Bác nẳm được nhà thơ miêu tả như ánh sáng một vầng trăng hiền dịu:

“Bác nằm trong giấc ngủ bình yên

Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

Mà sao nghe nhói ở trong tim!”

Ánh sáng của những ngọn đèn mờ ảo trong lăng gợi nhà thơ sự liên tưởng thật là thú vị “ánh trăng”. Tác giả đã thế hiện sự am hiểu của mình về Bác qua sự liên tường kì lạ đó. Bởi trăng với Bác từng là đôi bạn tri âm tri kỉ. Ánh trăng bát ngát ngoài trời đã từng vào thơ Bác trong nhà lao, trên chiến trận, giờ đây trăng cũng đến để ru giấc ngủ ngàn thu cho Người. Với hình ảnh “vầng trăng sáng dịu hiền” dụng ý nhà thơ còn muốn tạo ra một hệ thống hình ảnh vũ trụ để ví với Bác. Người có lúc như mặt trời ấm áp, có lúc dịu hiền như ánh trăng rằm. Bác của chúng là là vậy. “Mặt trời”, “vầng trăng”, “trời xanh” đó là những cái mênh mông bao la của vũ trụ được nhà thơ ví như cái bao la rộng lớn trong tình thương của Bác. Đó cũng là biểu hiện sự vĩ đại, rực rỡ. cao siêu của con người và sự nghiệp cùa Bác. Biết rằng Bác vẫn sống mãi trong sự nghiệp cách mạng và tâm trí nhân dân như bầu trời xanh vĩnh viễn trên cao. Nhưng nhà thơ vẫn không khỏi thấy nhói đau trong lòng khi đứng trước thi thể của Người: “Mà sao nghe nhói ở trong tim”. Nỗi đau như hàng ngàn mũi kim dâm vào trái tim thổn thức của tác giả. Đó là sự rung cảm chân thành của nhà thơ.

Còn đứng trong lãng Bác, nhưng khi nghĩ đến lúc phải xa Bác, Viễn Phương thấy bịn rịn không muốn dứt. Tình cảm của nhà thơ trong suốt thời gian trên luôn sâu lắng, đau lặng lẽ nhưng đến giây phút này, Viễn Phương không thể nào ngăn được nữa. để cho tình cảm theo dòng nước mắt tuôn trào, dâng lên cao và tha thiết nhất “mơ về miền Nam thương trào nước mắt”. Chỉ nghĩ đến việc về miền Nam, tác giả cũng đã “trào nước mắt”, luyến tiếc khi chia tay, bịn rịn không muốn xa nơi Bác nghỉ, ở câu thơ này, tác giả không sử dụng một nghệ thuật gì cả, chỉ là lời nói giản dị, là tình thương sâu lắng tự tấm lòng nhưng lại làm cho ta xúc động, bài thơ thêm giàu cảm xúc. Một cách nói không hoa mĩ, chân thành như người dân Nam bộ, nhưng lại lắng trong đó nỗi thương yêu đau đớn không có gì có thể nói và tả được Tác giả thay mặt cho nhân dân miền Nam .bày tỏ niểm thương tiếc vô hạn đối với vị cha già dân tộc. Câu nói giản dị ấy làm người đọc thêm hiểu và đồng cảm với cảm xúc của Viễn Phương, bởi lời nói đó đều xuất phát từ muôn triệu trái tim bé nhỏ cùng chung nỗi đau không khác gì tác giả. Được gần Bác dù chỉ trong giây phút nhưng không bao giờ ta muốn xa Bác bởi Người ấm áp quá, rộng lớn quá. Ước nguyện thành kính của Viễn Phương cũng là mong ước chung của những người đã hoặc chưa một lần nào gặp Bác:

Xem thêm:  Top 10 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng lớp 10 chọn lọc

“Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác

Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây

Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.”

Từ ngữ “muốn làm” được lặp di lặp lại nhiều lần trong đoạn thơ thể hiện được ước muốn, sự tự nguyện của tác giả. Hình ảnh cây tre lại xuất hiện khép bài thơ lại một cách khéo léo. Một mong ước chân thành của nhà thơ. Tác giả muốn làm con chim hằng ngày ca hót cho Bác yên ngủ, làm đóa hoa tỏa hương thơm ngào ngạt, cùng muôn đóa hoa khác làm đẹp nơi Bác nghỉ. Và vui sướng nhất khi được làm cây tre trung hiếu đứng mãi bên Bác canh từng giấc ngú của Người. Cánh hoa ấy, tiếng chim hót và cây tre trung hiếu ấy giữ mãi cho Người giấc ngủ bình yên. Viễn Phương nói lên mong ước của mình cũng như là ước nguyện của tất cả chúng ta muốn được gần Bác để được lớn lên một chút:

“Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta

Ta bỗng lớn ở bên người một chút.”

Bác của chúng ta là vậy. Người giàu tình thương yêu, giàu đức hi sinh và đời Người thì vô cùng giản dị. Đất nước ta mất Bác như mất người cha vĩ đại, người cha luôn luôn dành cho nhân loại tình thương vô bờ bến.

Bài thơ “Viếng lăng Bác” thật giàu hình ảnh, giàu cảm xúc. mấy ai đọc bài thơ mà không thấy rung động trong lòng. Bằng cách sử dụng điêu luyện những biện pháp tu từ một cách sáng tạo, tác giả đã thể hiện tình cảm ngọt ngào đằm thắm lại rất giản dị chân thành đối với Bác. Nhà thơ đã truyền dược cảm xúc của mình đến với người đọc chính bởi cảm xúc của cả đồng bào Nam bộ nói riêng cùa dân tộc nói chung. Chúng ta những cháu ngoan của Bác Hồ cũng xin nguyện như Viễn Phương làm cây tre trung hiếu, làm bông hoa đẹp, làm tiếng chim hay và làm muôn ngàn công việc tốt để dâng lên Người.

Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác lớp 9 – Bài làm 9

Viễn Phương tên thật là Phan Thanh Viễn, quê ở An Giang, mảnh đất cực Nam của Tổ quốc. Ông là nhà thơ có mặt sớm nhất trong lực lượng văn nghệ giải phóng ở miền Nam thời kì chống Mĩ. Viễn Phương đã có mấy tập thơ được xuất bản, trong đó có nhiều bài hay. Bài thơ Viếng lăng Bác sáng tác năm 1976, trong không khí xúc động của nhân dân cả nước khi lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa được hoàn thành sau ngày giải phóng miền Nam, thông nhất đất nước, đồng bào miền Nam có thế thực hiện mong ước được ra Hà Nội viếng lăng Bác Hồ. Đây là một trong những bài thơ hay nhất viết về đề tài lãnh tụ. Bài thơ đã được phổ nhạc và được đông đảo quần chúng nồng nhiệt đón nhận.

Từ mảnh đất Thành đồng Tổ quốc vừa trải qua mấy chục năm trời chiến đấu gian khổ chống xâm lăng, Viễn Phương ra thăm miền Bắc và theo dòng người đến viếng lăng Bác ở quảng trường Ba Đình. Cảm xúc mãnh liệt đã biến thành nguồn thi hứng dạt dào. Bao trùm toàn bài thơ là tình cảm thiết tha, niềm khâm phục, ngưỡng vọng, biết ơn và ước nguyện của tác giả nói riêng và nhân dân miền Nam nói chung đối với Bác.

Giọng điệu chung của bài thơ trang trọng và tha thiết. Nhiều hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng chứa đựng ý nghĩa sâu xa. Ngôn ngữ bình dị mà gợi cảm, biểu lộ lòng thành kính và niềm xúc động chân thành của nhà thơ nói riêng và của mọi người nói chung khi vào lăng viếng Bác.

Cảm xúc trữ tình chi phối hình tượng thơ và ngôn ngữ thơ. Khung cảnh lăng Bác được miêu tả từ xa tới gần, từ khái quát tới cụ thể.

Bài thơ khá gọn, chỉ có 4 khổ, 16 dòng, kết hợp giữa miêu tả với biểu hiện tâm trạng của nhà thơ trong cuộc viếng thăm lăng Bác. Ngoại cảnh được miêu tả bằng vài nét chấm phá, nổi bật là hình ảnh hàng tre và hình ảnh dòng người vào lăng viếng Bác.

Bao trùm bài thơ là niềm xúc động thiêng liêng, thành kính, lòng biết ơn và tự hào pha lẫn nỗi xót xa, nuối tiếc. Cảm hứng ấy đã chi phối giọng điệu của bài thơ. Đó là giọng điệu thành kính, trang nghiêm, phù hợp với không khí thanh tĩnh, thiêng liêng nơi Bác Hồ đời đời yên nghỉ.

Mở đầu bài thơ là cảm nhận của tác giả về khung cảnh bên ngoài lăng. Có lẽ gây ấn tượng mạnh nhất chính là hình ảnh hàng tre xanh tốt quanh lăng, gợi nhớ đến hình ảnh thân thương, quen thuộc của quê hương, đất nước. Tiếp đó là hình ảnh dòng người nối nhau bất tận, ngày ngày vào lăng viếng Bác. Những suy ngẫm về Bác được gợi lên từ những hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng như: mặt trời, vầng trăng, trời xanh. Cuối cùng là ước nguyện thiết tha của nhà thơ là được mãi mãi ở bên lăng Bác. Cảm xúc chân thành và mãnh liệt đã tạo nên bố cục tự nhiên và hợp lí của bài thơ.

Trong khổ thơ đầu, tiết tấu chậm rãi và hình ảnh giàu ý nghĩa tượng trưng gợi không khí thiêng liêng, thành kính nhưng vẫn ấm áp, gần gũi:

Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam

Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng.

Từ miền Nam, nhà thơ ra thăm miền Bắc với niềm sung sướng vô biên của người con xa quê đã lâu ngày. Câu thơ mở đầu ngắn gọn như một thông báo, nhưng lại phản ánh rất thật tâm trạng xúc động của nhà thơ – chiến sĩ sau bao năm mong mỏi, bây giờ mới được thỏa nguyện. Ấn tương đầu tiên của tác giả là về hàng tre dẫn vào lăng Bác. Tự đáy lòng, cảm xúc rưng rưng bật thốt thành lời:

Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam,

Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng.

Quanh lăng Bác có nhiều loài cây và hoa quý của mọi miền đất nước. Song không phải tình cờ mà nhà thơ lại chọn hình ảnh hàng tre. Cây tre được coi là biểu tượng của đất nước Việt Nam, tượng trưng cho phẩm chất cao quý của dân tộc Việt Nam: cần cù, bền bỉ, bất khuất, thủy chung.

Hình ảnh những hàng tre xanh xanh hiện lên trong sương sớm gợi nhớ tới hình ảnh quen thuộc của làng xóm, quê hương. Nét đẹp bình dị của hàng tre làm dịu đi vẻ tôn nghiêm vốn có của lăng Bác, đồng thời làm tăng thêm cảm giác gần gũi, thân thương, ấm áp trong lòng người đến viếng. Viếng lăng Bác là trở về với quê hương, nguồn cội, trở về với những giá trị tinh thần cao quý vốn có tự ngàn xưa. Song hình ảnh hàng tre bát ngát chỉ là khúc dạo đầu để mở ra một loạt suy tưởng khác sâu lắng hơn, cảm động hơn.

Tiếp nối dòng suy tưởng ấy, nhà thơ đã sử dụng một ẩn dụ nghệ thuật tuyệt đẹp để nói lên cảm nhận của mình khi đứng trước lăng:

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng,

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.

Câu trên là hình ảnh thực, câu dưới là hình ảnh ẩn dụ vừa nói lên sự vĩ đại của Bác Hồ (như mặt trời) vừa thể hiện được thái độ tôn kính của nhân dân, của nhà thơ đối với Bác.

Mặt trời chiếu sáng nơi nơi. Ánh nắng mặt trời là nguồn sống cho mọi sinh vật trên trái đất này. Giống như mặt trời, Bác Hồ cũng là nguồn ánh sáng, nguồn sức mạnh. Mặt trời – Bác Hồ soi đường dẫn lối cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do, thống nhất đất nước. Bác đã cùng nhân dân vượt qua trăm ngàn gian khổ, hi sinh để đi tới chiến thắng quang vinh, trọn vẹn. Mặt trời – Bác Hồ tỏa hơi ấm tình thương bao la trong lòng mỗi con người. Nhà thơ Tố Hữu đã so sánh Bác như: Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ: Cái nghĩa, cái nhân lớn lao của Bác đã tác động mạnh mẽ, sâu xa tới mỗi số phận con người. Theo con đường cách mạng của Bác, dân tộc Việt Nam đã thoát khỏi ách nô lệ của thực dân, phong kiến. Công ơn của Bác có thể sánh ngang non cao, biển rộng. Bởi thế, ai cũng mong được gặp Bác, được chiêm ngưỡng và bày tỏ tình cảm của mình đối với Bác:

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ,

Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân…

Dòng người đi trong thương nhớ là hình ảnh rất thực. Còn câu : Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín múa xuân lại là một ẩn dụ đầy sáng tạo của nhà thơ, thể hiện tấm lòng thành kính vô hạn của nhân dân đối với Bác. Dòng người xếp hàng vào lăng viếng Bác được nhà thơ ví như những tràng hoa dâng nỗi thương nhớ kính yêu lên vị Cha già của dân tộc. Cái tinh tế của Viễn Phương là học theo cách nói lạc quan, hóm hỉnh của Bác. Nói đến tuổi tác, Bác không dùng từ tuổi mà dùng từ xuân: Nay tôi đã ngoài bảy mươi xuân… (Di chúc). Nhà thơ đã dùng cách nói ấy để gián tiếp khẳng định sự bất tử của Bác trong lòng dân tộc và nhân loại.

Ở khổ thơ thứ ba, tác giả thể hiện cảm xúc và suy nghĩ của mình khi vào trong lăng. Không gian và thời gian dường như ngưng tụ lại ở đây. Nhà thơ tả Bác bằng hai câu thơ giản dị mà vô cùng xúc động:

Bác nằm trong giấc ngủ bình yên

Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

Câu thơ diễn tả chính xác và tinh tế sự yên tĩnh, trang nghiêm cùng ánh sáng dịu nhẹ trong lăng Bác. Đồng thời, hình ảnh vầng trăng sáng dịu hiền lại gợi cho chúng ta nghĩ đến tâm hồn thanh khiết và những vần thơ tràn đầy ánh trăng của Bác.

Bao tình cảm dâng trào trong tim khi nhà thơ được chiêm ngưỡng Bác. Mái tóc, chòm râu bạc phơ, vầng trán cao thanh thản, vẻ mặt hiền từ… Dù chỉ được dừng bên Bác vài phút, song thời gian ngắn ngủi mà vô cùng quý giá ấy sẽ trở thành kỉ niệm không thể nào quên trong suốt cuộc đời. Ngòi bút Viễn Phương đã động chạm đến chốn sâu thẳm trong tâm hồn những người con miền Nam xa xôi được về lăng viếng Bác.

Tâm trạng xúc động của tác giả còn được biểu hiện cao hơn nữa trong một ẩn dụ nghệ thuật có ý nghĩa sâu xa:

Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

Mà sao nghe nhói ở trong tim!

Bác vẫn còn mãi với non sông đất nước, như trời xanh vĩnh hằng. Nhà thơ Tố Hữu viết: Bác sống như trời đất của ta, bởi Bác đã hóa thân thành thiên nhiên, đất nước và dân tộc. Dù tin như thế nhưng mấy chục triệu dân đất Việt vẫn đau xót và nuôi tiếc khôn nguôi trước sự ra đi của Bác.

Quy luật Tạo hóa là có sinh, có tử. Tuy vậy, Bác mất đi là một tổn thất lớn lao không gì bù đắp nổi. Cả đất trời, con người đều nhỏ lệ khóc thương vị lãnh tụ kính yêu!

Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa,

Đời tuôn nước mắt trời tuôn mưa…

(Tố Hữu)

Dẫu biết là lẽ thường tình nhưng không ai tin đó là sự thật. Điều đó xuất phát từ tình cảm tiếc thương khôn cùng của nhân dân và của tác giả dành cho vị lãnh tụ cách mạng vĩ đại Hồ Chí Minh. Bác ra đi mà chưa thỏa ước nguyện được trở lại thăm Thành đồng Tổ quốc, được gặp gỡ đồng bào miền Nam ruột thịt. Nhân dân miền Nam day dứt khôn nguôi bởi không được:

Rước Bác vào thăm, thấy Bác cười.

(Tố Hữu)

Nhà thơ Hải Như đã nói lên cảm xúc và suy nghĩ chung của nhân dân Việt Nam trước anh linh Bác:

Suốt một đời Bác có ngủ yên đâu,

Nay Bác ngủ, chúng con canh giấc ngủ.

Thời gian không cho phép nhà thơ Viễn Phương lưu lại bên Bác kính yêu. Ngày mai, nhà thơ sẽ trở về miền Nam với gia đình, đồng bào, đồng chí. Điều đó càng làm cho niềm xúc động thêm mạnh, thêm sâu:

Mai về miền Nam thương trào nước mắt

Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác

Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây

Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.

Đoạn thơ cuối đặc tả tâm trạng lưu luyến không rời của nhà thơ. Âm hưởng thơ như tiếng khóc thổn thức cố kìm nén lại và nỗi ngậm ngùi ẩn giấu trong những hình ảnh chứa đựng khát khao được gần gũi mãi mãi bên Bác Hồ kính yêu. Nhà thơ ao ước được hóa thân thành con chim hót quanh lăng Bác ; thành đoá hoa toả hương đâu đầy để làm vui, làm đẹp cho Bác trong giấc ngủ thiên thu. Đặc biệt là ước nguyện Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này để hòa nhập vào hàng tre bát ngát quanh lăng Bác. Hình ảnh cây tre có tính chất tượng trưng một lần nữa được nhắc lại khiến bài thơ có kết cấu theo kiểu khép kín (đầu cuối tương ứng). Hình ảnh hàng tre quanh lăng Bác được lặp lại ở câu thơ cuối, với nét nghĩa bổ sung là cây tre trung hiếu tô đậm thêm ấn tượng tốt đẹp trong lòng nhà thơ và khiến cho cảm xúc thơ được đẩy lên tới mức cao nhất. Đây là lời hứa thủy chung của riêng nhà thơ đối với Bác và cùng là ý nguyện của đồng bào miền Nam, của mỗi chúng ta nói chung, quyết tâm đi theo lí tưởng cao đẹp, theo sự nghiệp Cách mạng đúng đắn mà Bác Hồ là người chỉ lối đưa đường.

Bài thơ thành công bởi Viễn Phương đã chọn được một hình thức và giọng điệu phù hợp với nội dung trữ tình. Đó là giọng điệu vừa trang nghiêm, sâu lắng, vừa tha thiết, đau xót, tự hào, thể hiện rất đúng tâm trạng của nhà thơ và mọi người khi vào lăng viếng Bác.

Thể thơ tám chữ xen kẽ những dòng thơ bảy hoặc chín chừ. Cách gieo vần khá linh hoạt, có khi là vần liền, có khi là vần cách. Nhịp thơ chậm rãi, diễn tả sự trang nghiêm và cảm xúc thành kính. Riêng ở khổ thơ cuối, nhịp thơ nhanh hơn. Điệp ngữ Muốn làm được lặp lại ba lần, thể hiện mong ước thiết tha và nỗi lưu luyến không rời của tác giả.

Hình ảnh thơ có nhiều sáng tạo. Nhà thơ kết hợp giữa hình ảnh thực với hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng. Đặc sắc nhất là những hình ảnh ẩn dụ có tính chất biểu tượng: mặt trời trong lăng, tràng hoa, trời xanh, vầng trăng vừa quen thuộc, gần gũi, vừa tràng nghiêm, sâu sắc, có ý nghĩa khái quát và giá trị biểu cảm rất lớn.

Viếng lăng Bác là mốt bài thơ hay bởi nó được tạo ra từ những cảm xúc, rung động chân thành của trái tim nhà thơ, đồng thời cũng là tiếng lòng của tất cả chúng ta. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Bác Hồ như một thiên thần thoại của thế kỉ hai mươi. Chủ tịch Hồ Chí Minh là con người Việt Nam đẹp nhất! Nhà thơ Pita Rôđrighết của đất nước CuBa anh em đã tự hào khẳng định: Hồ Chí Minh – tên Người là cả một niềm thơ.

phan tich bai tho vieng lang bac lop 9 - Top 10 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác lớp 9 chọn lọc

Bài văn mẫu phân tích bài thơ Viếng lăng Bác lớp 9

Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác lớp 9 – Bài làm 10

Lâu nay, thơ văn trong và ngoài nước viết về Bác Hồ kính yêu của chúng ta nhiều không kể xiết. Các nhà thơ, nhà văn đều viết về Bác với tâm huyết và tình cảm chân thành, trang trọng nhất. Trong số thơ văn ấy, phải nhắc tới bài Viếng lăng Bác đầy xúc động của nhà thơ Viễn Phương:

Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam

Bão tố mưa sa đứng thẳng hàng

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân

Bác nằm trong giấc ngủ bình yên

Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

Mà sao nghe nhói ở trong tim!

Mai về miền Nam thương trào nước mắt

Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác

Muốn làm bông hoa tỏa hương đâu đây

Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.

Đọc ngay đoạn mở đầu, lòng em đã thấy bồi hồi trước không khí ấm áp gần gũi mà thiêng liêng thành kính của một hình ảnh vô cùng quen thuộc, đó là hàng tre:

Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam

Bão tố mưa sa đứng thẳng hàng.

Nói đến hàng tre bát ngát là nói đến quê hương và con người Việt Nam với biết bao đức tính cao quý và trong sáng. Nói đến hàng tre là chúng ta nghĩ ngay đến ngôi nhà thân yêu, tuổi thơ đầm ấm, lời ru của mẹ dịu dàng, ấm áp, tiếng võng đưa kẽo kẹt trưa hè dưới bóng tre làng. Hình ảnh hàng tre xanh xanh bát ngát là khúc nhạc dạo đầu để nhà thơ đưa chúng ta đến bao suy tưởng mênh mông hơn:

Bác nằm trong giấc ngủ bình yên

Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

Mà sao nghe nhói ở trong tim

Vầng trăng, trời xanh… những hình ảnh kì vỹ rộng lớn nối tiếp xuất hiện làm em không khỏi xúc đọng. Em chợt hiểu rằng nhà thơ phải kính yêu Bác đến mức nào mới sử dụng được nhuần nhuyễn hài hòa các hình ảnh ấy.

Cái nhói tim của tác giả là nỗi đau của biết bao con người Việt Nam trước sự ra đi của Bác. Ước nguyện gặp Bác của tác giả giờ không thể thực hiện được. Bác mãi mãi ra đi để lại trong lòng người con miền Nam niềm thương tiếc khôn nguôi. Đứng trước lăng mà lòng con bồi hồi, xúc động, xen lẫn nỗi đau mất mát. Sự chân tình, mộc mạc của người miền Nam đã thể hiện rất rõ trong từng lời thơ.

Đứng trước hình bóng Bác, nhà thơ như không muốn quay đi. Thực tế là con phải về, mai về. Ở miền Nam xa xôi rồi con sẽ rất nhớ Bác. Chính vì thế mà tác giả muốn hóa thân thành những hình tượng gắn liền với nơi Bác đang ngon giấc, để ru cho Bác ngủ giấc ngủ ngàn thu:

Mai về miền Nam thương trào nước mắt

Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác

Muốn làm bồng hoa tỏa hương đâu đây

Muốn làm cây tre trung hiểu chốn này.

Ước nguyện của nhà thơ cũng là ước nguyện của mọi người dân Việt Nam, của cả dân tộc Việt Nam. Thương Bác, nhớ Bác nên lòng con không muốn rời xa Bác. Đó là một tình cảm thiêng liêng mà mỗi người dân Việt Nam dành cho Bác.

Mở đầu bài thơ là hình ảnh hàng tre, kết thúc bài thơ cũng có hình ảnh cây tre. Phải chăng cây tre tượng trưng cho sức sống bền bỉ của dân tộc Việt Nam, cho cuộc đời đầy gian truân nhưng thật vĩ đại của Bác? Nếu ở khổ thơ đầu, từ hình ảnh thực của rặng tre bên lăng Bác nhà thơ đẩy lên thành hình ảnh tượng trưng cho cả dân tộc kiên cường bất khuất đứng quanh Người, thể hiện rõ ý chí và nguyện vọng của Người, thì ở câu thơ cuối, vận động của ý thơ lại theo chiều ngược lại. Từ sự mong muốn trong tâm tưởng luôn được ở bên canh Bác, nhà thơ đi đến những hình ảnh cụ thể, thể hiện ý đó, nào con chim hót quanh lăng Bác, nào đóa hoa tỏa hương đâu đây và cuối cùng là làm cây tre trung hiếu chốn này.

Bài thơ Viếng lăng Bác thật giàu tình cảm vì sự chân thành, tha thiết và sâu lắng của tác giả. Bài thơ tưởng kết thúc trong sự xa cách về không gian đâu ngờ lại tạo nên sự gần gũi trong tình cảm và ý chí. Người bước chân ra đi nhưng lòng ở lại. Như thế cuộc ra thăm lăng Bác của những con người miền Nam đâu có kết thúc.

Trên đây là những bài văn mẫu Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác lớp 9 hay nhất. Qua những bài văn mẫu trên hi vọng các em đã nắm được cách phân tích bài thơ và có thêm vốn từ để ch bài phân tích của mình được hay hơn, sâu hơn.

Thu Thủy

Check Also

bai viet so 4 lop 10 de 3 thuyet minh ve mot kinh nghiem hoc van hoac lam van e1584264850645 310x165 - Top 10 bài văn mẫu Bài viết số 4 lớp 10 đề 3 Thuyết minh về một kinh nghiệm học văn hoặc làm văn lớp 10 chọn lọc

Top 10 bài văn mẫu Bài viết số 4 lớp 10 đề 3 Thuyết minh về một kinh nghiệm học văn hoặc làm văn lớp 10 chọn lọc

Hướng dẫn làm bài văn mẫu Bài viết số 4 lớp 10 đề 3 Thuyết …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *