Home / Giáo dục / Văn mẫu / Top 10 bài văn mẫu Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương lớp 9 chọn lọc

Top 10 bài văn mẫu Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương lớp 9 chọn lọc

Hướng dẫn làm bài văn mẫu Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương lớp 9 hay nhất. Đề văn này thuộc dạng văn cảm nhận về một nhân vật văn học.

Trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ chúng ta bắt gặp nhân vật Vũ Nương, một người con gái mang nhiều đức tính tốt đẹp. Vậy nhưng cuộc đời nàng lại chịu quá nhiều những đau khổ, bất hạnh và dường như đó cũng là bất hạnh chung của người phụ nữ Việt Nam thời xưa. Đọc tác phẩm này em có cảm nhận gì về nhân vật? Trước khi nêu lên cảm nhận của mình, các em hãy tham khảo bài văn mẫu Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương lớp 9 hay nhất dưới đây để xem các bạn khác làm đề văn này như thế nào nhé.

Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương lớp 9 – Bài làm 1

Hải Dương là một mảnh đất hiếu học, nơi ấy đã sản sinh ra nhiều nhân tài cho đất nước như Nguyễn Dư, mọt nhà văn lớn, một học trò xuất sắc của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông có nhiều đóng góp cho nền văn học trung đại nước nhà trong đó tác phẩm Truyền kì mạn lục gồm hai mươi câu chuyện nhỏ đã gây nên một tiếng vang lớn và khiến nhiều người biết đến ông hơn. Chuyện người con gái Nam Xương chính là câu chuyện thứ 16 trong Truyền kì mạn lọc để lại nhiều ấn tượng đối với bạn đọc. Tác giả đã chạm đến cảm xúc của người đọc khi mà lột tả được hết bi kịch trong cuộc đời của người con gái tên là Vũ Nương.

Người con gái ấy có cho mình nhiều phẩm chất tốt đẹp. Nàng sinh ra trong một gia đình nghèo khó về vật chất nhưng nàng lại có nhan sắc, có đức hạnh. Vốn dĩ những người phụ nữ như vậy phải được hưởng một cuộc sống hạnh phúc nhưng hồng nhan thì bạc mệnh, có lẽ đó là lời nguyền chung. Như Thúy Kiều của Nguyễn Du, một người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng lại phải sống một cuộc đời đầy khổ ải, chịu nhiều tủi nhục. Trở lại với Vũ Nương, nàng được Nguyễn Dữ miêu tả là người phụ nữ có tính tình thùy mị nết na lại thêm tư duy tốt đẹp. Vũ Nương mang một vẻ đẹp thuần khiết của một người phụ nữ Việt Nam thời xưa mà như Hồ Xuân Hương đã từng viết trong tác phẩm của mình là “vừa trắng lại vừa tròn”. Chính nhờ những vẻ đẹp ấy của mình mà Vũ Nương lọt vào mắt xanh của Trương Sinh, con trai nhà hào phú. Nàng được gả về làm vợ Trương Sinh với mức giá trăm lạng vàng, một cuộc hôn nhân không bình đẳng, không phải vì tình yêu. Mà thời xưa, phụ nữ Việt đâu có được sống với tình yêu, với thanh xuân.

Lấy được một người chồng có gia thế, lẽ ra Vũ Nương phải được sống hạnh phúc trong nhung lụa. Nhưng nàng không vì giàu sang mà đánh đổi bản thân mình. Nàng vẫn giữ được cái đức hạnh của một người con gái chân quê. Nàng chăm chỉ làm lụng lo cho gia đình nhà chồng. Nàng chăm sóc mẹ chồng như chăm sóc mẹ đẻ của mình. Cưới nhau chưa được bao lâu thì Trương Sinh phải đi lính, nàng một mình ở nhà chăm sóc mẹ già lại thêm đứa con ở trong bụng, vất vả đủ đường. Đứa con chào đời mà người chồng vẫn chưa trở về, Vũ Nương mòn mỏi chờ đợi chẳng khác nào người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm khúc. Nàng vẫn luôn giữ gìn khuôn phép, giữ trọn đạo lý làm vợ, làm mẹ. Nàng khéo léo vun vén hạnh phúc gia đình, thu vén công việc và cho thấy mình là một người phụ nữ thông minh. Nàng khiến cho bà con làng xóm, mẹ chồng ai cũng đều yêu mến.

Với mẹ chồng, nàng chăm sóc bà tận tình và điều đó thể hiện rõ nét nhất trong những ngày cuối đời của bà. Một mình người phụ nữ bé nhỏ là Vũ Nương phải chạy đôn chạy đáo lo thuốc thang cho mẹ chồng. Bà không qua khỏi, nàng lại vất vả lo ma chay. Phải mạnh mẽ lắm, giỏi giang lắm thì Vũ Nương mới đủ sức một mình gồng gánh quá nhiều công việc như vậy. Kể mà có một người đàn ông trong nhà thì nàng đỡ khổ bao nhiêu. Mẹ chồng nàng trước khi qua đời cũng đã ghi nhận công lao của nàng với gia đình nhà chồng mà trăn trối rằng “Sau này trời xét lòng lành ban cho phúc đức giống dòng tốt tươi, xanh kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ”.

Với con trai, nàng vừa là mẹ, vừa là cha. Những đứa trẻ lớn lên thiếu thốn tình cảm của người cha thường có sự mặc cảm trong lòng. Chưa kể chúng còn dễ bị người đời dè bỉu. Tất nhiên, cha Đản đi lính nên không ai dè bỉu Đản cả. Thế nhưng Vũ Nương vẫn sợ con mình cảm thấy thiếu thốn tình cha. Và để bù đắp cho sự thiếu thốn ấy, đêm đêm nàng chỉ vào cái bóng của mình ở trên tường và bảo với con đó chính là cha của con. Nàng không ngờ rằng chính vì điều này đã khiến cuộc đời nàng rơi vào bi kịch.

Trương Sinh chồng nàng là một người có tính đa nghi. Cộng thêm hoàn cảnh chiến tranh đẩy cặp vợ chồng này phải xa nhau nên Trương Sinh càng trở nên đa nghi hơn. Chuyện cái bóng thông qua lời kể của bé Đản khiến Trương Sinh nghi ngờ tình cảm và sự chung thủy của người vợ. Sự mù quáng của Trương Sinh khiến chàng không muốn nghe ai nói, không muốn nghe bất cứ một lời giải thích nào. Chàng vội kết tội Vũ Nương là người không chung thủy mặc cho nàng giải thích. Thậm chí, Vũ Nương còn bị mắng nhiếc thậm tệ và bị đuổi đi. Vũ Nương không còn cách nào khác, nàng đã mượn dòng nước quê hương để giãi bày nỗi lòng trong trắng của mình. Đáng thương thay số phận người phụ nữ bị chính người thân yêu nhất của mình đẩy vào con đường cùng.

Qua Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ chúng ta cảm nhận được Vũ Nương là một người phụ nữ có tư chất thông minh, tâm hồn trong sáng và cao đẹp. Nàng thà chết để giữ sạch sự trong sáng, giữ sạch phẩm hạnh của mình còn hơn là sống mà để cho người ta nghi ngờ. Như cảm thông cho số phận của người phụ nữ này và cũng như một cách lên tiếng bảo vệ người phụ nữ, Nguyễn Dữ đã để cho nàng được sống dưới long cung nhưng không cho nàng trở về để cảnh tỉnh những người đàn ông như Trương Sinh. Một lời nói ra có thể giết chết một con người và chúng ta sẽ không thể nào sửa chữa được sai lầm to lớn ấy. Trương Sinh sau khi nghe câu chuyện của Phan Lang đã lập đàn giải oan cho vợ nhưng cũng không đủ giúp chàng giải thoát được sự giằn vặt từ sâu trong tâm can.

Từ nỗi khổ, nỗi bất hạnh của Vũ Nương, ta cũng cảm nhận được nỗi đau của những người phụ nữ sống trong xã hội cũ. Chính chiến tranh đã gây nên tội ác lớn lao cho con người, khiến đôi lứa phải xa nhau, mẹ phải xa con, vợ phải xa chồng. Trên hết, Nguyễn Dữ thông qua hình ảnh Vũ Nương đã ca ngợi những phẩm chất tuyệt vời của người phụ nữ Việt Nam thời xưa.

cam nhan ve nhan vat vu nuong lop 9 2 - Top 10 bài văn mẫu Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương lớp 9 chọn lọc

Bài văn hay Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương lớp 9

Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương lớp 9 – Bài làm 2

Nguyễn Dữ sống ở thế kỷ XVI quê ở huyện Trường Tân nay là Thanh Miện – Hải Dương. Ông là học trò của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Các tác phẩm của ông đã đóng góp rất lớn cho nền văn học trung đại Việt Nam. Điển hình là “Truyền kỳ Mạn Lục” gồm có hai mươi câu chuyện nhỏ. Trong đó tiêu biểu là chuyện người con gái Nam Xương là câu chuyện thứ 16 của Truyền Kỳ Mạn Lục, được bắt đầu từ truyện “vợ chàng Trương”. Truyện thể hiện niềm thương cảm sâu sắc của tác giả trước số phận bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, đồng thời ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của họ qua nhân vật chính Vũ Nương.

Trước tiên Vũ Nương là người phụ nữ mang nhiều phẩm chất tốt đẹp, là người phụ nữ bình dân xuất thân từ gia đình nghèo nhưng nàng vừa có nhan sắc, vừa có đức hạnh. Tính đã thùy mị nết na lại thêm tư duy tốt đẹp.

Vẻ đẹp của Vũ Nương mang vẻ đẹp của một người phụ nữ – của chiếc bánh trôi trong thơ của Hồ Xuân Hương “vừa trắng lại vừa tròn”. Vì vậy Trương Sinh con nhà hào phú đã xin với mẹ trăm lạng vàng cưới nàng về làm vợ, cuộc hôn nhân không bình đẳng, đã vậy Trương Sinh lại có tính đa nghi, hay ghen. Vậy mà trong đạo vợ chồng nàng tỏ ra là một phụ nữ thông minh, đôn hậu, biết chồng có tính đa nghi hay ghen nàng đã “luôn giữ gìn khuôn phép… thất hòa” chứng tỏ nàng rất khéo léo trong việc vun vén hạnh phúc gia đình.

Sống trong thời loạn lạc nên cuộc sum vầy chưa được bao lâu thì Trương Sinh tòng quân đi lính nơi biên ải. Buổi tiễn chồng ra trận nàng rót chén rượu đầy chúc chồng bình yên “chàng đi chuyến này thiếp chẳng mong… thế là đủ rồi”. Ước mong của nàng thật giản dị chỉ vì nàng coi trọng hạnh phúc gia đình hơn mọi công danh phù phiếm ở đời. Những năm xa cách Vũ Nương thương nhớ chồng khôn xiết kể: “Mỗi khi bướm lượn đầy vườn mây che kín núi thì nỗi buồn chân trời góc bể lại không thể nào ngăn được”

Tâm trạng thương nhớ ấy của Vũ Nương cũng là tâm trạng chung của nhiều người chinh phụ trong thời loạn lạc ngày xưa.

“Nhớ chàng đằng đẳng đường lên bằng trời

Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu

Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong”

(Chinh phụ ngâm khúc – Đoàn Thị Điểm)

Thể hiện tâm trạng ấy Nguyễn Dữ vừa cảm thông với nỗi đau xa cách chồng của Vũ Nương vừa ca ngợi tấm lòng chung thủy của nàng.

Không chỉ là một người vợ chung thủy, Vũ Nương còn là một người mẹ hiền, người con dâu hiếu thảo, chàng ra trận vừa tròn tuần thì nàng sinh con nuôi dạy con khôn lớn. Để bù đắp thiếu vắng cha của con nàng chỉ chiếc bóng của mình trên tường và nói là cha Đản, còn với mẹ chồng già yếu nàng chăm sóc mẹ rất chu đáo, thuốc thang phụng dưỡng như cha mẹ đẻ của mình. Nàng đã làm chọn chữ “công” với nhà chồng. Đây là điều rất đáng trân trọng của Vũ Nương bởi thời xưa quan hệ mẹ chồng nàng dâu dường như chưa bao giờ êm đẹp và chứa đầy những định kiến khắt khe.

Tấm lòng của nàng đã được người mẹ chồng ghi nhận, điều này thể hiện qua những lời trăn trối của bà trước khi qua đời “Sau này trời xét lòng lành ban cho phúc đức giống dòng tối tươi, xanh kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ”. Vũ Nương chính là người phụ nữ lý tưởng trong xã hội ngày xưa: Công, dung, ngôn, hạnh.

Là người phụ nữ có bao phẩm chất tốt đẹp đáng lẽ nàng phải được hưởng cuộc sống hạnh phúc chí ít cũng như nàng mong ước đó là thú vui nghi gia, nghi thất – vợ chồng con cái sum họp bên nhau. Thế nhưng cuộc sống của Vũ Nương cũng như cuộc đời của người phụ nữ xưa là những trang buồn đầy nước mắt. Bất hạnh của nàng bắt đầu từ khi giặc tan Trương Sinh trở về, chuyện cái bóng của con thơ đã là Trương Sinh ngờ vực, rồi kết tội Vũ Nương. Chàng đinh ninh là vợ hư, nàng hết lời phân trần để bày tỏ lòng thủy chung, cố gắng hàn gắn hạnh phúc gia đình có nguy cơ tan vỡ những tất cả đều vô ích. Vốn có tính hay ghen lại vũ phu ít học.

Trương Sinh đã đối xử với nàng hết sức tàn nhẫn “mắng nhiếc, đánh đuổi nàng đi”, bỏ ngoài tai những lời phân trần của vợ và những lời khuyên can của hàng xóm. Thất vọng đến tột cùng Vũ Nương đành mượn dòng nước quê hương để giãi tỏ nỗi lòng trong trắng của mình. Nàng “tắm gội chay sạch ra bến sông Hoàng Giang ngửa cổ lên trời là than rằng kẻ bạc mệnh này duyên hẩm hiu… phỉ nhổ”. Nói rồi nàng nhảy xuống sông tự vẫn. Vũ Nương bị người thân nhất đẩy xuống bên bờ vực thẳm dẫn đến bi kịch gia đình.

Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương (thân phận người phụ nữ trong XHPK) qua “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ, “thà chết trong còn hơn sống đục” với tấm lòng yêu thương con người Nguyễn Dữ không để cho sự trong sáng cao đẹp của Vũ Nương phải chịu oan khuất nên phần cuối chuyện đầy ắp những chi tiết hoang đường kì ảo. Sau câu chuyện của Phan Lang, Trương Sinh lập đàn giải oan cho vợ. Nàng trở về trong thế rực rõ uy nghi nhưng chỉ thấp thoáng trong giây lát rồi biến mất mãi mãi. Vũ Nương mãi mất đi quyền sống, quyền hạnh phúc, quyền làm vợ, làm mẹ. Bi kịch của Vũ Nương cũng chính là bi kịch của người phụ nữ xã hội xưa. Bi kịch ấy không chỉ dừng ở thế kỉ XVI, XVII, XVIII mà đến đầu thế kỷ XIX Nguyễn Du từng viết trong truyện Kiều:

“Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”

Với niềm xót thương sâu sắc Nguyễn Dữ lên án những thế lực tàn ác chà đạp lên những khát vọng chính đáng của con người – của phụ nữ. Ông tố cáo xã hội phong kiến với những hủ tục phi lý, trọng nam khinh nữ, đạo tam tòng bao bất công và hiện thân của nó là nhân vật Trương Sinh, người chồng ghen tuông mù quáng, vũ phu sống với hủ tục là thế lực đồng tiền bạc án nên Trương Sinh con nhà hào phú một lúc bỏ ra trăm lạng vàng để cưới Vũ Nương. Ngoài ra ông còn tố cáo chiến tranh phi nghĩa đã làm phá vỡ hạnh phúc gia đình của con người.

Như vậy bằng cách xây dựng truyện hết sức độc đáo là sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố tự sự, trữ tình và yếu tố thực ảo. Chuyện “Người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ mang đến cho chúng ta bao ấn tượng tốt đẹp. Truyện ca ngợi Vũ Nương có đầy đủ phẩm chất tốt đẹp mang tính truyền thống nhưng cuộc đời nàng lại là những trang buồn đầy nước mắt. Vẻ đẹp số phận của nàng cũng là vẻ đẹp số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến cũ. Ngày nay chúng ta được sống trong thế giới công bằng dân chủ, văn minh người phụ nữ là một nửa của thế giới họ được hưởng những quyền lợi mà nam giới được hưởng. Vậy chúng ta hãy phát huy những vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ xưa và thương cảm trước số phận của họ.

Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương lớp 9 – Bài làm 3

“Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói hương

Miếu ai như miếu vợ chàng Trương”.

Ngàn năm trôi qua, làn khói viếng “miếu vợ chàng Trương” vẫn muôn đời lan tỏa, vấn vương, như tiếc như thương cho số phận đầy bi kịch của Vũ Nương. Bằng ngòi bút đầy trân trọng trong “Chuyện người con gái Nam Xương”, Nguyễn Dữ đã tạc vào lịch sử văn học Việt Nam hình ảnh một người phụ nữ thời phong kiến, một Vũ Nương, đại diện cho cái đẹp hoàn mỹ. Nhưng đáng tiếc thay, cuộc đời nàng lại chất chứa những trang buồn đầy nước mắt.

Tên nàng là “Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương”, đã đẹp người lại đẹp nết. Trương Sinh, chồng nàng, là một người thất học lại thêm tính đa nghi. Khi binh đao loạn lạc, Trương phải ra trận. Một tuần sau, nàng sinh con trai đầu lòng và một mình chăm sóc mẹ chồng, lo tang ma khi mẹ chồng mất. Giặc tan, chàng Trương về, nghe lời con trẻ mà nghi ngờ lòng thủy chung của vợ. Vũ Nương không minh oan được nên đành trẫm mình, nhưng nàng được Linh Phi ở động Rùa cứu giúp. Sau đó, nàng gặp Phan Lang, người hàng xóm đã cứu Linh Phi, nhờ Phan Lang gửi hộ lời với chàng Trương. Trương Sinh hối cải, lập đàn giải oan theo lời Vũ Nương. Nàng hiện lên gặp chồng con rồi lại quay về động Rùa vì hai người đã “âm dương đôi đường”. Nhưng hình ảnh Vũ Nương không dừng lại ở đó mà còn mãi vấn vương trong lòng người đọc bởi nét đẹp hoàn mỹ cũng như số phận oan khuất và cái chết đầy bi thảm của nàng.

Vũ Nương chính là đại diện cho vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến. Không như Nguyễn Du miêu tả thật tinh tế nét đẹp “nghiêng nước nghiêng thành” của Thúy Kiều, Nguyễn Dữ chỉ điểm qua nhẹ nét đẹp của Vũ Nương: “tư dung tốt đẹp”. Nhưng chỉ bằng một chi tiết nhỏ ấy, tác giả đã phần nào khắc họa được hình ảnh một cô gái có nhan sắc xinh đẹp. Cũng bởi “mến vì dung hạnh” nên chàng Trương đã lấy nàng làm vợ. Nhưng chữ “dung” ấy, vẻ đẹp hình thức ấy, chẳng thể nào tỏa sáng ngàn đời như vẻ đẹp tâm hồn nàng. Vũ Nương “vốn con kẻ khó”, song rất mực tuân theo “tam tòng tứ đức”, giữ trọn lề lối gia phong và phẩm hạnh của chính mình. Thế nên, nàng rất “thùy mị, nết na”. Trong gia đình chồng, nàng luôn “giữ gìn khuôn phép, không để lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa”. Thế là, “hạnh”, một trong những tiêu chuẩn đánh giá con người, nàng đã vẹn tròn. Lễ nghĩa, nàng cũng thông hiểu, am tường. Tuy chẳng phải tiểu thư khuê các, con nhà quyền quý nhưng lời nàng nói ra dịu dàng như vàng như ngọc. Ngày tiễn chồng ra trận, nàng đã dặn rằng: “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi”. Từng lời, từng chữ nàng thốt ra thấm đẫm tình nghĩa vợ chồng thủy chung, son sắt, khiến “mọi người đều ứa hai hàng lệ”. Phận làm vợ, ai chẳng mong phu quân mình được phong chức tước, áo gấm về làng. Còn nàng thì không. Nàng chỉ ước ao giản dị rằng chàng Trương trở về được bình yên để có thể sum họp, đoàn tụ gia đình, hạnh phúc ấm êm như ngày nào. Nhưng mong ước của nàng đã không thực hiện được. Bị chồng một mực nghi oan, Vũ Nương tìm mọi lời lẽ để chứng minh sự trong sạch của mình. Nàng vẫn đoan trang, đúng mực, chỉ nhẹ nhàng giải thích: “Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu. Sum họp chưa thỏa tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh. Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng. Ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót. Đâu có sự mất nết hư thân như lời chàng nói. Xin chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp”. Lời nói của nàng luôn từ tốn, nhẹ nhàng, không quá hoa mỹ nhưng chất chứa nghĩa tình. Chỉ qua những lời thoại, từ “ngôn” của Vũ Nương đã để lại một ấn tượng khó phai trong lòng người đọc bởi vẻ từ tốn, tế nhị của nàng. Và cũng từ những câu nói ấy, chúng ta cảm nhận được sự hy sinh vô bờ của nàng vì chồng con, gia đình. Khi chồng ra trận, cả giang san nhà chồng trĩu nặng trên đôi vai gầy guộc, mỏng manh của nàng. Nàng phải sinh con một mình giữa nỗi cô đơn lạnh lẽo, thiếu sự vỗ về, an ủi của người chồng. Thật là một thử thách quá khó khăn với một người phụ nữ chân yếu tay mềm. Nhưng nàng vẫn vượt qua tất cả, một mình vò võ nuôi con khôn lớn, đợi chồng về. Không những thế, nàng còn hết lòng chăm lo cho mẹ chồng ốm nặng: “Nàng hết sức thuốc thang, lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn”. Thời xưa, quan hệ mẹ chồng – nàng dâu dường như chưa bao giờ êm đẹp và chứa đầy những định kiến khắt khe.

“Mẹ anh nghiệt lắm anh ơi

Biết rằng có được ở đời với nhau

Hay là vào trước ra sau

Cho cực lòng thiếp, cho đau lòng chàng”.

Nhưng nàng đã yêu thương mẹ chồng như chính cha mẹ ruột của mình. Mọi việc trong nhà đều được nàng chăm lo chu tất. Và lời trăn trối cuối cùng của mẹ chồng như một lời nhận xét, đánh giá, một phần thưởng xứng đáng với những công lao và sự hy sinh cao cả của nàng vì gia đình nhà chồng: “Xanh kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ”. Tác giả đã một lần nữa nhắc lại: “Nàng hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như với cha mẹ đẻ mình”, như tô đậm tình yêu thương của nàng đối với mẹ chồng. Vũ Nương là một nàng dâu đảm đang, thảo hiền trong mắt tất cả mọi người. Vậy là cả “công – dung – ngôn – hạnh” nàng đều vẹn toàn. Nàng chính là đỉnh cao của sự hoàn mỹ về cả vẻ đẹp hình thức lẫn tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam xưa dưới chế độ phong kiến. Song, số phận chẳng hề mỉm cười với nàng.

Xem thêm:  Top 10 bài văn mẫu tả ngôi trường của em lớp 3 chọn lọc

Cuộc đời Vũ Nương tiêu biểu cho số phận oan trái của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến. Nàng gặp bao bất hạnh trên đường đời. Chiến tranh tàn khốc đã khiến bao gia đình li tán. Trước cảnh đất nước binh đao loạn lạc, Trương Sinh phải đi lính, giao phó cả giang san nhà chồng trên đôi vai bé nhỏ của người thiếu phụ. Tất cả mọi việc trong nhà đều trông cậy vào nàng. “Khi xa chồng vừa đầy tuần thì sinh ra một đứa con trai, đặt tên là Đản”. Thiếu vắng sự quan tâm, săn sóc của người chồng, song nàng vẫn nuôi nấng, dạy dỗ con thơ khôn lớn, trưởng thành. Vừa một mình chăm sóc, thuốc thang cho mẹ chồng, Vũ Nương vừa sinh con trai, lại thầm lặng, tần tảo nuôi con và cũng một mình lo ma chay, chôn cất mẹ chồng chu đáo. Từng ngày từng ngày trôi, bấy giờ, trên đôi vai bé nhỏ của nàng khó khăn lại chồng chất khó khăn. Rồi chiến tranh cũng qua, cứ ngỡ Vũ Nương lại được sum họp gia đình, đoàn viên cùng chàng Trương, được sống trong hạnh phúc lứa đôi mà nàng hằng ao ước. Nàng đâu biết rằng bi kịch cuộc đời nàng sắp bắt đầu. Những ngày xa chồng, nàng đã âm thầm nuôi con, và nàng xót xa biết bao khi nhìn cảnh con thơ thiếu vắng sự chăm sóc, yêu thương của người cha. Thế là nàng đã chỉ bóng mình trên tường mà bảo với con rằng ấy chính là cha Đản. Hành động ấy chẳng phải vì nàng quá thương nhớ chồng mà xuất phát từ tấm lòng yêu thương con vô bờ của một người mẹ. Nhưng nàng sẽ chẳng bao giờ ngờ được rằng nàng chết chính bởi cái bóng của chính mình. Ngày Trương Sinh về, nghe lời con thơ dại mà hàm oan vợ: “Trước đây có người đàn ông đêm nào cũng đến. Mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả”. Trương Sinh vốn là tên thất học, lại thêm “tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức”. Lời nói ngây thơ của bé Đản chứa đầy những chi tiết đáng ngờ, như đổ thêm dầu vào lửa. Tính đa nghi của Trương Sinh đã dâng lên đến cao trào và một mực “đinh ninh là vợ hư”. Chàng không còn đủ bình tĩnh để phán đoán, phân tích, bỏ ngoài tai những lời phân trần của vợ, không tin cả những nhân chứng bênh vực cho nàng, cũng nhất quyết không nói ra nguyên cớ để nàng có cơ hội minh oan. Và Trương Sinh thoáng chốc hóa một kẻ vũ phu, thô bạo, “mắng nhiếc nàng và đánh đuổi đi”. Vượt qua được mọi gian lao, vất vả trong chiến tranh để vẹn tròn phận dâu thảo hiền nhưng Vũ Nương không thể vượt qua nổi bức tường của chế độ nam quyền độc đoán, bất công, tàn bạo. Lời nói của nàng đầy thương tâm: “Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu”. Ngay từ đầu, cuộc hôn nhân giữa nàng và chàng Trương đã có phần không bình đẳng và mang tính chất một cuộc trao đổi, mua bán: Trương Sinh “xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về”. Điều ấy khiến chúng ta chạnh lòng nhớ đến tình cảnh một Thúy Kiều khi phải bán mình chuộc cha:

“Cò kè bớt một thêm hai

Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm”.

Sự cách bức về địa vị xã hội như thế đã tạo cho Trương Sinh một cái thế bên cạnh những uy quyền vốn có của người chồng, người đàn ông trong gia đình gia trưởng phong kiến. Chính cái gia đình “chồng chúa vợ tôi”, “phu xướng phụ tùy” ấy đã khiến nàng bị khinh rẻ, đối xử tệ bạc. Một người vợ vốn đức hạnh, ngoan hiền, vâng theo cả “tam tòng tứ đức” lại phải mang tiếng xấu “hư thân mất nết”. Mọi lời mắng nhiếc của Trương Sinh như chà đạp lên phẩm giá cao đẹp mà nàng đã gìn giữ cả một đời. Khi xa chồng, Vũ Nương là người vợ thủy chung, yêu chồng tha thiết, nỗi buồn nhớ cứ dài theo những “bướm lượn đầy vườn”, “mây che kín núi”. Thế mà khi vừa mới sum họp hạnh phúc, nàng lại bị gán cho tội danh: “lừa chồng dối con”. Thật đau đớn, thật tủi nhục! Bi kịch của cuộc đời Vũ Nương chính từ lễ giáo bất công và chế độ nam quyền. Người đàn ông với những quyền hành về số phận, cuộc đời người phụ nữ đã đẩy Vũ Nương vào đường cùng không lối thoát. Cái chết oan khuất, xót xa của Vũ Nương, ai có thể ngờ người gây ra thảm kịch ấy chính là chồng và con nàng, những người thân mà nàng hết mực yêu thương, chăm sóc. Nàng, một người con gái luôn khao khát hạnh phúc dù chỉ nhỏ nhoi, bình dị nhưng cho đến khi trẫm mình xuống sông thì cuộc đời nàng đúng là một chuỗi dài những bi kịch. Hạnh phúc đâu quá xa vời mà xã hội phong kiến ấy không cho nàng chạm tay đến tận hưởng “thú vui nghi gia nghi thất” một lần duy nhất trong đời. Nỗi oan của nàng thấu cả trời xanh. Ngày xưa, Quan Âm Thị Kính mắc oan giết chồng bởi “tình ngay lý gian”. Nhưng nàng Thị Kính cũng còn hiểu ra nỗi oan khuất của mình từ đâu mà thành. Còn khi đã chìm sâu dưới dòng nước, Vũ Nương vẫn không hề biết rằng mình phải chết vì đâu. Bi kịch của Vũ Nương là một lời tố cáo xã hội phong kiến xem trọng quyền uy của kẻ giàu và của người đàn ông trong gia đình, đồng thời bày tỏ niềm cảm thương đối với số phận oan nghiệt của người phụ nữ. Người phụ nữ đức hạnh không những không được bênh vực, che chở mà lại còn bị đối xử một cách bất công, vô lý; chỉ vì lời nói ngây thơ của đứa trẻ miệng còn hôi sữa và vì sự hồ đồ, vũ phu của anh chồng ghen tuông mà đến nỗi phải kết liễu cuộc đời mình. Phải chăng đằng sau nỗi oan của nàng còn bao nhiêu nỗi oan của những người phụ nữ khác trong chế độ phong kiến bị rẻ rúng, suốt đời sống trong câm lặng.

Xót thương trước nỗi đau khổ vì bị chà đạp của những người phụ nữ, Nguyễn Dữ như muốn minh oan và bù đắp cho những đức tính tốt đẹp của nàng bằng một cuộc sống khác với dương gian. Nhưng ở chốn “làng mây cung nước”, Vũ Nương chẳng thể nào nguôi nỗi nhớ về những oan ức, bĩ cực ở cõi trần. Sống giữa cõi tiên huyền ảo, đẹp diệu kỳ nhưng nàng dường như không bao giờ dứt tình nghĩa gia đình, mãi khóc thương cảnh gia đình tiêu điều xơ xác. Nàng xin lập đàn giải oan, khao khát được trả lại danh dự của một người con gái đức hạnh. Và cuối cùng, nỗi oan của nàng đã được giải. Từ chốn thủy cung, Vũ Nương “ngồi trên một chiếc kiệu hoa đứng giữa dòng, theo sau có đến năm mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng, rực rỡ sắc màu, lúc ẩn, lúc hiện”. Nhưng xót xa thay, nàng “chẳng thể trở về nhân gian được nữa”. Nỗi oan tình của nàng đã được minh oan, giải tỏa nhưng âm dương đôi đường cách trở, nàng chẳng bao giờ được làm vợ, làm mẹ chốn cõi trần. Bé Đản mãi mãi là một đứa bé mồ côi mẹ. Nếu nàng được trở về với cõi trần thì liệu xã hội phong kiến bất công không có nơi dành cho cái đẹp này có dành cho nàng một cuộc sống ấm êm, bình yên, hay một lần nữa, nàng phải đau đớn, buồn khổ. Dù quay về chốn tiên cảnh xinh đẹp, nhưng cuối cùng, mơ ước cả đời của nàng, hạnh phúc “nghi gia nghi thất”, chỉ mãi là ước mơ hảo huyền.

Hình tượng nhân vật Vũ Nương là hiện thân của lòng vị tha và vẻ đẹp người phụ nữ. Song cuộc đời nàng gặp nỗi bi kịch lớn. Ấy chính là tấn bi kịch của người phụ nữ Việt Nam trong chế độ phong kiến tàn ác, chế độ của sự lạc hậu và cả bóng đêm vĩnh cửu. Điều đó khiến chúng ta phải chạnh lòng trước số phận của người phụ nữ.

“Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”

Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương lớp 9 – Bài làm 4

Nguyễn Dữ là nhà văn xuất sắc trong nền văn học trung đại Việt Nam. Ông học rộng tài cao, nhưng chỉ làm quan một năm rồi lui về ở ẩn vì bất lực trước thời đại suy yếu của phong kiến. Có thể nói “truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ là một tác phẩm tiêu biểu cho thể loại truyền kỳ ở Việt Nam, trong đó “người con gái Nam Xương” dựa trên tích truyện dân gian nhưng với tài năng sự sáng tạo tuyệt vời và lòng yêu con người tha thiết, Nguyễn Dữ đã làm bao bạn đọc phải rơi lệ xót thương cho cuộc đời và số phận của Vũ Nương – một người phụ nữ đức hạnh nhưng có số phận bất hạnh.

Mở đầu trang – truyện, tác giả Nguyễn Dữ đã giới thiệu Vũ Nương là một người con gái: “thùy mị, nết na, tư dung tốt đẹp”. Mặc dù con nhà nghèo lấy chồng giàu lại có tính đa nghi ít học nhưng do hiền lành nết na lại thông minh, khéo cư xử nên nàng đã san bằng được khoảng cách “môn đăng hộ đối” – một quan điểm nặng nề của lễ giáo phong kiến và giữ được không khí trong gia đình yên ấm, hạnh phúc “chưa từng xảy ra thất hòa”. Có thể nói cuộc đời nàng tuy ngắn ngủi nhưng nàng đã làm tròn bổn phận của một người vợ hiền, một người dâu thảo, người mẹ hết mực yêu con. Trước hết, Vũ Nương là người vợ hết lòng yêu thương và thủy chung son sắc với chồng. Sống dưới thời loạn lạc vì không có học nên tên Trương Sinh phải ghi vào sổ lính loại đầu. Trong buổi tiễn đưa chồng ra trận, nàng rót chén rượu đầy tiễn chồng bằng lời lẽ dịu dàng, tha thiết “chàng đi chuyến này thiếp chả dám mong đeo được ấn phong hầu mặc áo gấm trở về quê cũ chỉ xin ngày về mang theo hai chữ bình yên thế là đủ rồi”. Đọc đến đây, người đọc xúc động trước khao khát, ước mơ bình dị của Vũ Nương. Đằng sau niềm khao khát ước mơ ấy là cả một tấm lòng yêu thương chân thành, đằm thắm vượt ra ngoài cám dỗ vật chất tầm thường “vinh hoa phú quý”. Yêu thương chồng, nàng mong mỏi ngày chàng bình yên trở về bởi hơn hết trong lòng nàng cái khát khao lớn nhất là được hưởng thú vui “nghi gia nghi thất” vợ chồng sum họp, con cái đầy đàn, nàng được làm trọn và hưởng hạnh phúc làm mẹ, làm vợ, Khi Trương Sinh ở ngoài mặt trận, tình cảm của nàng luôn hướng về Trương Sinh. Hình ảnh “bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi” là hình ảnh thiên nhiên hữu tình gợi sự trôi chảy của thời gian đã khiến cho “nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được”. Tác giả đã diễn tả thật tinh tế chân thực nỗi niềm nhớ nhung, mong mỏi kín đáo, âm thầm mà da diết của Vũ Nương. Vào mỗi buổi tối, nàng thường trở bóng mình trên vách để bảo là cha Đản, việc làm ấy của nàng đâu chỉ là đơn thuần chỉ để chơi đùa nói với con mà còn là lời nói với mình lòng mình để tự an ủi mình, nàng tưởng tượng ra trong căn nhà nhỏ bé của hai mẹ con lúc nào cũng có hình bóng của Trương Sinh, ý nghĩ ấy là làm vơi đi nỗi cô đơn trống trải trong lòng nàng. Suốt ba năm Trương Sinh đi vắng, nàng đã giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn đã từng nguôi lòng ngõ liễn tường hoa chưa hề bén góc vẫn một lòng một dạ với chồng Trương Sinh.

Không chỉ vậy, Vũ Nương còn là một người con dâu hiếu thảo. Trong lúc chồng đi vắng, nàng gánh vác mọi công việc, vượt cạn một mình, thay chồng phụng dưỡng mẹ già, nuôi dạy con thơ mà không một lời kêu than phàn nàn. Khi mẹ chồng ốm, nàng hết lòng thương xót lo ma chay chu đáo như mẹ đẻ của mình. Lời của mẹ chồng trước lúc lâm chung “sau này trời xét lòng lành ban cho phúc đức giống dòng tươi tố con cháu đông đàn xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ” đã minh chứng cho tấm lòng yêu thương chân thành của người con có hiếu. Nàng là người mẹ hết lòng yêu thương, chăm sóc dạy dỗ con, vào mỗi buổi tối nàng thường chỉ cái bóng trên vách và bảo là cha Đản không chỉ để nô đùa cùng con mà còn mong con luôn nhớ tới hình bóng của người ba, nàng còn là người phụ nữ trọng nhân phẩm. Khi bị vu oan, Vũ Nương đã hết lời tha thiết, thanh minh thề non nguyện biển nhưng không được, nhân phẩm trong trắng bị xúc phạm nặng nề bởi nỗi nhơ thất tiết, nàng đã phải chọn cái chết để minh chứng cho tấm lòng trong sáng, thủy chung của mình. Mặc dù khát khao được sống được hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng nàng cũng quyết đổi mạng sống của mình để bảo vệ nhân phẩm – cái mà nàng quý hơn tất cả, yếu tố kỳ ảo được dùng đã làm hoàn thiện hơn vẻ đẹp của Vũ Nương, ta hiểu thêm nàng là người nhân hậu, bao dung, ở dưới thủy cung được sống đầy đủ sung sướng quan hệ giữa người với người tốt đẹp nhưng lúc nào nàng cũng đau đáu nhớ về gia đình, chồng con, Câu nói của nàng với Phan Lang khiến người đọc rưng rưng nước mắt “… ngựa hồ gấm gió bắc, chim Việt đậu cành nam, tôi tất phải tìm về có ngày”. Lẽ ra nàng có quyền căm thù nơi trần thế đã đẩy nàng vào cái chết oan khuất nhưng trái tim nàng không một chút oán hờn, vẫn nhân hậu vị tha, bao dung. Qua đây, người đọc cảm nhận được Vũ Nương là một người phụ nữ có phẩm chất đức hạnh.

Nhưng hỡi ơi! thương thay cho số phận oan nghiệt của Vũ Nương, một người phụ nữ cả đời hi sinh để mong muốn được hạnh phúc như Vũ Nương lại phải chết một cách oan khuất, không được hưởng những gì mình đã hi sinh. Nàng phải gặp tình duyên ngang trái khi nàng vẫn còn xuân. Nguyễn Dữ đã cảm thương cho Vũ Nương, người phụ nữ nhan sắc đức hạnh lại phải lấy Trương Sinh – một kẻ vô học, hồ đồ, vũ phu. Thương tâm hơn khi người chồng đó còn có tính đa nghi đối với vợ lúc nào cũng “phòng ngừa quá sức”, lấy chồng chưa được bao lâu, nàng đã phải tiễn biệt chồng lên đường đánh giặc. Trương Sinh đi lính để lại gánh nặng cho người vợ trẻ, Vũ Nương thay chồng nuôi mẹ và con. Sau khi mẹ chồng mất, chỉ còn hai mẹ con Vũ Nương trong căn nhà trống vắng cô đơn. Đọc đến đây, người đọc không khỏi chạnh lòng xót thương cho cho cảnh người vợ trẻ chỉ biết san sẻ buồn vui với đứa con thơ dại. Việc quân kết thúc, Trương Sinh từ miền xa chinh chiến trở về nhưng Vũ Nương không được hưởng hạnh phúc trong cảnh vợ chồng sum họp chỉ vì chuyện “chiếc bóng” qua miệng đứa con thơ mới tập nói mà Trương Sinh đã “đinh ninh” là vợ hư liền mắng nhiếc, đuổi Vũ Nương đi. Trương Sinh bỏ ngoài tai mọi lời bày tỏ van xin đến rướm máu, lời biện bạch của họ hàng, làng xóm. Nàng đã bị chồng đẩy vào bi kịch bị ghép ngay vào tội không chung thủy, một trong những tội bị người đời phỉ nhổ, nguyền rủa nhất của người phụ nữ phong kiến thời xưa. Nhân phẩm mà nàng coi trọng nhất, quý giá nhất và ra sức giữ gìn thì nay lại bị xúc phạm nặng nề, có thể khẳng định nỗi đau mà nàng phải gánh chịu là quá lớn, nàng đã bị đẩy vào bước đường cùng vào vực thẳm của cuộc đời, nàng phải chọn cái chết trong khi nàng vẫn khao khát được hưởng hạnh phúc gia đình.

Tại sao Vũ Nương lại phải chết một cách oan khuất như vậy? phải chăng là lời nói ngây ngô, vô tình của con trẻ “Ô hay thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói chứ không như cha tôi, trước khi chỉ nín thin thít… đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi” đã làm thổi bùng lên ngọn lửa sẵn có trong lòng Trương Sinh, không đâu khác, chính là do chồng nàng – Trương Sinh, một kẻ hồ đồ phũ phu lại ghen tuông, độc đoán, chỉ vì lời nói ngây thơ của con trẻ mà đã đinh ninh là vợ hư, bỏ mặc ngoài tai những lời thanh minh biện bạch của vợ, lời bênh vực của họ hàng, làng xóm, để rồi đẩy Vũ Nương vào cái chết oan nghiệt. Đằng sau trang văn, truyện còn nói lên do lễ giáo phong kiến “trọng nam kinh nữ” và sự bất bình đẳng của kẻ giàu và người nghèo. Đồng thời, còn do chiến tranh phong kiến phi nghĩa đã gây lên cảnh sinh ly, Trương Sinh phải đi lính, Vũ Nương phải chịu nỗi oan, để rồi Vũ Nương phải tìm đến cái chết thê thảm, oan khuất. Tất cả những nguyên nhân trên đã đẩy Vũ Nương đến bước đường cùng phải chọn cái chết để bảo vệ nhân phẩm của mình, cái chết của Vũ Nương chính là tấm bi kịch đau thương, cái chết oan khuất tức tưởi của nàng là một lời tố cáo đanh thép xã hội phong kiến bất công, vô lý, đã cướp đi quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc của con người.

Như vậy, “chuyện người con gái Nam Xương” đã vượt lên tư cách một bản lề của truyện cổ tích, “Vợ chồng Trương” bởi sự tái tạo đầy tính nghệ thuật của Nguyễn Dữ, tác giả đã xây dựng được tình huống truyện bất ngờ, tạo nên kịch tính cho câu chuyện với lời nói ngây thơ của bé Đản dẫn đến sự hiểu lầm của Trương Sinh, thành công của truyện hơn tất cả là tác giả đã sử dụng yếu tố hoang đường góp phần tăng thêm tính hiện thực và ý nghĩa nhân văn của tác phẩm, hoàn thiện hơn vẻ đẹp của Vũ Nương – một người phụ nữ điển hình trong văn học Việt Nam thế kỷ XVI. Đó là một phụ nữ hoàn hảo nhưng lại có số phận éo le, bi đát. Cũng giống như Vũ Nương trong xã hội phong kiến xưa còn có biết bao thân phận của người phụ nữ phải sống trong cảnh đời như vậy như hình ảnh của người phụ nữ trong bài thơbánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương.

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non”

Hay trong “truyện Kiều” của Nguyễn Du có viết:

“Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”

Tóm lại, “chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ là một áng văn hay – tiêu biểu cho thể loại truyền kỳ và được người đời đánh giá là “thiên cổ kỳ bút”. Truyện vừa thể hiện số phận bi đát của người phụ nữ trong xã hội phong kiến vừa có ý nghĩa cơ ngợi vẻ đẹp của lòng vị tha – tiêu biểu là hình ảnh Vũ Nương, qua câu chuyện người đọc càng cảm thấy giá trị cuộc sống của người phụ nữ trong xã hội ngày nay. Họ đang phấn đấu vươn lên làm chủ cuộc đời, chủ số phận và họ – những người phụ nữ hiện đại phải được sống bình đẳng, được mọi người tôn trọng như nam giới.

Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương lớp 9 – Bài làm 5

Vũ Nương là nhân vật tiêu biểu cho người phụ nữ đức hạnh ở xã hội phong kiến nhưng phải chịu số phận oan khuất. Câu chuyện vừa có ý nghĩa ca ngợi vẻ đẹp của lòng vị tha, đức hạnh vừa thể hiện ước mơ muôn thủa của con người, người tốt bao giờ cũng được đền trả xứng đáng dù chỉ là một thế giới huyền bí, ảo ảnh.

Vũ Nương là người phụ nữ có phẩm chất đức hạnh. Tác giả giới thiệu là người phụ nữ thùy mị, nết na lại thêm tư dung tốt đẹp. Và để làm nổi bật vẻ đẹp này nhà văn đã đặt nhân vật vào các hoàn cảnh tình huống cụ thể. Khi mới lấy chồng Vũ Nương cư xử đúng mực, nhừng nhịn, giữ gìn khuôn phép lên chồng nàng có tính đa nghi đối với vợ, phòng ngừa quá mức nhưng gia đình vẫn chưa từng phải đến bất hòa.

Xem thêm:  Top 10 bài văn mẫu Cảm nhận nhân vật Đăm Săn trong đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây lớp 10 chọn lọc

Khi chồng đi lính Vũ Nương giót chén rượu đầy giặn dò chồng những lời tình nghĩa đằm thắm thiets, nàng không mong vinh hiển mà chỉ cầu mong chồng được trở về bình yên. Cảm thông với những vất vả gian lao mà chồng sẽ phải chịu đựng nơi trận mạc nói lên nỗi khắc khoải nhớ nhung của mình. Những lời nói ân tình của nàng khiến mọi người đều xúc động.

Khi Trương Sinh ở ngoài mặt trận Vũ Nương càng tỏ rõ mình là người vợ thủy chung yêu thương chồng hết mực. Mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn – Cảnh vui mùa xuân hay mây che kín núi – Cảnh buồn mùa đông. Nàng lại chảy nỗi buồn thương, nhớ nhung da diết lại thổn thức tâm tình, tiết hạnh của nàng còn được khẳng định: Trong câu nói sau này của chồng cách biệt ba năm giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngỡ liễu tường hoa chưa hề bén gót.

Khi chồng đi vắng nàng sinh con một mình, vừa nuôi con nhỏ vừa chăm lo săn sóc mẹ chồng khi già yếu ốm đau hết sức thuốc thang lễ bái thần phật, lấy lời ngọt ngào khuyên bảo. Phẩm hạnh của nàng được ghi nhận trong lời chăn chối của mẹ chồng. Đó là sự đánh khách quan. Khi mẹ chồng mất nàng hết lòng lo việc ma chay, tế lễ lo liệu như cha mẹ đẻ.

Khi chiến tranh kết thúc Trương Sinh trở về lẽ ra nàng được đón nhận một cuộc sống hạnh phúc. Tuy nhiên vì lời nói vô tình ngây thơ của con, một sự hiểu nhầm bởi tính đa nghi quá mức. Phải kết thúc cuộc đời mình khi quá trẻ.

Vì người chồng thất học lại hay ghen, độc đoán truyền quyền đã không bộc bạch lời nói của con cho mình biết lại còn không chịu nghe lời rãi bầy phân trần, không chịu động lòng trước thái độ khổ đau của vợ. “ Cách biệt 3 năm… cho thiếp”. Lời nói này của Vũ Nương không chỉ nhằm minh oan mà nàng còn cố gắng tìm mọi cách để hàn gắn hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ tan vỡ. Nhưng điều đó đâu có được Trương Sinh chấp nhận, khi họ hàng làng xóm bênh vực cho nàng nhưng Trương Sinh không tin. Như vậy, ngay cả quyền tự bảo vệ mình và được người khác làm chứng minh oan cũng không có, nàng đau đớn thất vọng mà than: “Thú vui nghi gia nghi thất… ngay cả ước nguyện cũng không được rãi bày”.

Mọi cố gắng của Vũ Nương đều không được chấp nhận. Tiết hạnh không được tỏ bày, thất vọng tột cùng nàng mượn dòng sông Hoàng Giang minh chứng tấm lòng trong sáng, rửa sạch tiếng nhơ oan ức. “Kẻ bạc mệnh này… khắp mọi người phỉ nhổ”. Lời than vừa là lời rãi bày vừa là lời thề nguyền cùng trời đất của kẻ bạc mệnh đầy đau khổ. Cái chết đau đớn của Vũ Nương cũng là sự đầu hàng của con người trước số phận. Nguyễn Dữ đã thốt lên:

“Đau đớn thay thân phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”.

Qua câu truyện từ nhiều thế kỉ trước bằng năng lực sáng tạo của mình Nguyễn Dữ đã xây dựng nhân vật có chiều sâu hơn, các chi tiết kì ảo được mô tả vừa lung linh vừa hiện thực tạo lên vẻ đẹp riêng của tác phẩm. Vũ Nương là người phụ nữ thủy chung, đức hạnh vẹn toàn mà vô cùng bất hạnh. Tác phẩm là lời tố cáo hiện thực xã hội phong kiến đương thời nêu bật thân phận nỗi đau của người phụ nữ trong bi kịch gia đình.

cam nhan ve nhan vat vu nuong lop 9 1 - Top 10 bài văn mẫu Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương lớp 9 chọn lọc

Những bài văn mẫu Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương lớp 9

Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương lớp 9 – Bài làm 6

Tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương đã để lại trong lòng người đọc những cảm xúc khó phai về số phận của người phụ nữ Việt Nam trong chế độ cũ.

Hình ảnh người con gái Vũ Nương phải gieo mình xuống dòng sông Nhị Hà để chứng minh sự trong trắng trinh bạch của mình, khi bị chồng nghi oan, khiến cho người đọc vô cùng cảm động, rơi nước mắt xót xa.

Vũ Nương vốn là người con gái thùy mị, đoan trang nhưng do tính đa nghi của người chồng. Do xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, coi trọng tiếng nói, uy quyền của người đàn ông hơn phụ nữ đã khiến cho nàng phải chết oan khuất như vậy.

Thông qua tác phẩm của mình tác giả Nguyễn Dữ muốn bày tỏ niềm xót xa với những người phụ nữ thời xưa, thể hiện tinh thần nhân văn nhân đạo của tác giả.

Vũ Nương tên cha mẹ đặt cho nàng là Vũ Thị Thiết, vốn là người con gái nết na, xinh đẹp, khéo tay được nhiều chàng trai để ý thầm thương trộm nhớ. Nhưng năm nàng tròn đôi chín, có chàng trai tên Trương Sinh, gia cảnh neo đơn, nhà chỉ có một mẹ một con đến xin hỏi cưới làm vợ với giá một trăm lạng vàng.

Chính trong phong tục cưới vợ ngày xưa đã cho thấy người phụ nữ không hề có quyền quyết định vận mệnh tương lai, hạnh phúc của mình. Nàng tuy là một con người có suy nghĩ, tính cách của riêng mình nhưng chuyện cưới hỏi, chuyện hạnh phúc trăm năm nàng lại phải nghe lời cha mẹ hai bên. Nàng được hỏi cưới với giá một trăm lạng vàng chẳng khác nào được bán với một trăm lạng vàng.

Từ ngày về làm dâu, làm vợ Trương Sinh, Vũ Nương luôn hiếu thuận với mẹ chồng, là người vợ hiền dâu thảo, không để gia đình chồng chê trách điều gì. Nàng luôn chu đáo lo toan trong ngoài.

Từ xưa tới nay những người con dâu như nàng thật hiếm thấy. Nàng và Trương Sinh cũng tâm đầu ý hợp không bao giờ xảy ra to tiếng, cãi vã bất hòa bởi Vũ Nương luôn coi lời chồng và mẹ chồng là quan trọng nhất. Với đức tính ngoan hiền, dịu dàng, thùy mị nết na của mình Vũ Nương luôn giữ gìn gia đình của mình hạnh phúc ấm êm.

Những hạnh phúc ngắn ngủi, Trương Sinh phải gia nhập quân ngũ đi đánh giặc ngoài chiến trường, khi mà Vũ Nương vừa luôn giữ tròn đạo vợ hiền, dâu thảo, nàng chăm sóc mẹ chồng, giữ gìn đức hạnh mới mang thai.

Dù xa chồng nhưng Vũ Nương chờ chồng, thủy chung trước sau như một. Không một chút tà tâm, hay có lòng dạ không chung thủy, yếu lòng với ai đó. Nhưng chẳng bao lâu khi Trương Sinh đi xa, mẹ chồng của nàng ốm bệnh, dù đã cốgắng chạy chữa thuốc thang nhưng bà không qua khỏi mà mất đi, bỏ lại Vũ Nương một mình với đứa con nhỏ.

Hai mẹ con nuôi nhau sống qua ngày, chờ ngày Trương Sinh trở về. Nhiều đêm buồn nhớ chồng Vũ Nương thường chỉ bóng mình trên tường nói với con trai đó chính là ba con đó. Thằng bé ngây thơ tưởng thật. Nó đâu biết rằng đó chỉ là cái bóng của mẹ nó mà thôi.

Chiến tranh kết thúc ngày Trương Sinh trở về nhà, Vũ Nương vui mừng khôn xiết, những tưởng năm tháng chờ chồng nuôi con một mình đã được báo đáp. Nhưng sóng gió đã ập đến với nàng một cách không ngờ.

Khi về tới nhà nghe tin mẹ mất Trương Sinh đau xót vô cùng, anh chàng liền bế con trai của mình đi ra mộ mẹ thắp hương cho mẹ yên lòng. Nhưng thằng bé cứ khóc mãi không chịu nín nó nhất định không chịu nhận Trương Sinh là cha. Nó bảo Cha nó tối nào cũng tới.

Trương Sinh nóng tính, hay ghen, lại quá đa nghi nên vội vã tin lời con trẻ, không cho vợ được giải thích mà đùng đùng nổi giận đuổi vợ ra khỏi nhà. Quá đau đớn vì không thể thanh minh sự trong sạch của mình nên Vũ Nương đã nhảy xuống sông Nhị Hà tự vẫn. Trước nỗi oan khuất quá lớn Vũ Nương không thể nào sống tiếp trên cõi đời này được nữa.

Người con gái tên Vũ Nương đó đã phải chết trong oan khuất, tủi hờn như vậy. Nhưng do phẩm giá cao quý và đức hạnh của nàng đã làm trời đất cảm động.

Cuối cùng thì nàng cũng được giải oan, khi mà Trương Sinh trong một đêm không ngủ ngồi soi bóng mình trên tường thì con trai anh nhìn thấy nó vui mừng nói lớn “Cha con đó”. Trương Sinh biết mình đã nghi oan cho vợ nhưng hối hận thì đã muộn màng.

Còn Vũ Nương sau khi chết được cứu giúp rồi được lập đàn siêu thoát bay về trời làm tiên nữa, thoát kiếp con người khổ đau bất hạnh

Chuyện người con gái Nam Xương nhằm tố cáo tội ác của chế độ phong kiến, người đàn ông luôn cậy quyền lực mà đàn áp người phụ nữ khiến cho nhiều người phụ nữ phải chịu thiệt thòi, oan khuất.

Nhân vật Vũ Nương là người con gái hiền dịu nết na, là tấm gương cho nhiều nhiều phụ nữ noi theo. Cô là người đức hạnh, hiền thục rất tiếc rằng cuộc đời lại không cho cô gặp được một người chồng tốt, không cho cô được quyết định hạnh phúc của đời mình.

Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương lớp 9 – Bài làm 7

Chuyện người con gái Nam Xương đã làm cảm động bao lòng người bởi số phận cay đắng và oan nghiệt của người thiếu phụ trẻ mang tên Vũ Nương. Nàng trong trắng, thùy mị nết na nhưng vì tính đa nghi, và vì chế độ trọng nam khinh nữ của xã hội phong kiến cũ mà nàng đã phải tự kết liễu cuộc đời để chứng minh cho tấm lòng trong sạch của mình. Qua đó, nhà văn Nguyễn Dữ muốn bày tỏ sự thương cảm, xót xa với Vũ Nương, với những người phụ nữ có số phận hẩm hiu giống nàng. Ông đã dùng cách dẫn dắt câu chuyện rất tài tình kết hợp với những yếu tố ly kỳ hấp dẫn khiến người đọc bị cuốn hút và đồng cảm với cuộc đời đầy bi kịch của người con gái Nam Xương trong chuyện.

Nguyễn Dữ đã xây dựng nên hình ảnh một người con gái, một người phụ nữ, một người vợ có đầy đủ những phẩm chất tốt đẹp: Công – dung – ngôn hạnh. Vũ Nương tên thật là Vũ Thị Thiết, vốn tính thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp. Chính vì vậy nàng được Trương Sinh mến và xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về. Như vậy, dù đẹp cả người lẫn nết, nàng vẫn không có quyền được tự mình quyết định hạnh phúc riêng. Và dù Trương Sinh – chồng nàng là kẻ rất đa nghi, đối với vợ cũng phòng ngừa quá mức, Vũ Nương vẫn luôn giữ gìn đức hạnh, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa. Từ một người con gái ngoan ngoãn, nay Vũ Nương đã trở thành một người vợ hiền chu đáo và toàn diện. Thật hiếm có người nào được như nàng. Bởi thế, theo quan niệm của nhiều người, vợ chồng có thuận hòa hay không là do ở người vợ. Dù Trương Sinh có tính đa nghi nhưng với tấm lòng khiết tịnh và đức tính dịu dàng, ngoan hiền, Vũ Nương đã luôn gìn giữ được mái ấm gia đình.

Nhưng rồi, cuộc sum họp chưa được bao lâu, Trương Sinh phải lên đường ra mặt trận đánh giặc. Giây phút từ biệt mẹ già và vợ trẻ, chàng cũng buồn lắm nhưng vì việc nước không thể chối từ. Vũ Nương cũng lưu luyến không nỡ rời xa. Nàng thủ thỉ cùng chồng: Thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi. Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường. Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà mua dưa chín quá kì, khiến cho tiện thiếp băn khoăn, mẹ hiền lo lắng. Như vậy, Vũ Nương chẳng hề nghĩ đến những thứ gấm vóc lụa là, tiền tải của cải như nhiều cô gái khác. Ngược lại, lòng nàng chỉ cần sự bình yên trong ngày chồng trở về. Vũ Nương thật khiêm tốn với tấm lòng trong sáng và thanh khiết. Khi tiệc tiễn vừa tàn, “ngước mắt cảnh vật vẫn còn như cũ, mà lòng người đã nhuộm mối tình muôn dặm quan sam”. Lòng người thiếu phụ giờ trống vắng, bâng khuâng.

Khoảng thời gian ở nhà cùng mẹ chồng, Vũ Nương cũng đã sống hết lòng với mẹ, không khác gì ruột thịt của mình. Lúc bà ốm, “nàng hết sức thuốc thang lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn”. Một mình Vũ Nương vừa chăm con nhỏ vừa đỡ đần mẹ già yếu bệnh tật. Nhưng chưa bao giờ nàng kêu thản nửa lời. Một mình Vũ Nương cùng lúc đảm nhiệm cả bốn trọng trách cao cả: một người mẹ sớm nắng chiều hôm chăm sóc cho đứa con thơ, một người cha vỗ về lúc con quấy khóc, một người con dâu hiếu thảo hết lòng với mẹ chồng, đồng thời nàng cũng thay chồng làm một người con trai đỡ đần mẹ già yếu những lúc buồn lòng tủi phận. Dù vất vả, Vũ Nương đã làm rất tốt. Đến cả mẹ chồng cũng động lòng trước con dâu: “Sau này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ”. “Bà cụ nói xong thì mất. Nàng hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình”. Có được một người phụ nữ như Vũ Nương trong nhà quả là phúc đức lớn.

Nhưng sau tất cả, nào hiếu thảo, nào đức hạnh… những tưởng nàng sẽ được hưởng hạnh phúc trọn vẹn khi Trương Sinh trở về bình yên. Tai họa đã ập xuống người thiếu phụ hiền lành phúc đức và đáng thương. Trương Sinh khi nghe lời con trai ngây ngô nói trước đây đêm nào cũng có một người đàn ông đến với mẹ. Vốn tính đa nghi lại hay ghen tuông, dĩ nhiên Trương Sinh sẽ làm ầm lên với vợ, một mực không cho nàng được giải thích. Mọi niềm tin về một người vợ hiền thảo, thủy chung giờ đã tan biến trong giây phút. Khổ một nỗi là Trương Sinh nhất quyết không chịu nói ra là ai là người đã nói với chàng rằng Vũ Nương ở nhà hư hỏng. Về phía Vũ Nương, nàng giải thích nhưng không được nghe, không được thấu hiểu. Đến bước đường cùng, nàng phải tìm đến cái chết để mong chứng minh được sự trong sạch của mình. “Đoạn rồi, nàng tắm gội chay sạch, ra bến Hoàng Giang ngửa mặt lên trời mà than rằng: Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám. Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trê xin làm cơm cho diều quạ, và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ. Nói xong nàng gieo mình xuống sông mà chết”. Như vậy, người thiếu phụ trẻ măng đã phải tìm đến cái chết một cách oan ức và đau thương. Cái chết của nàng do chính người chồng mà nàng đã hết lòng thương nhớ gây nên. Hơn hết, là do sự bất công của chế độ phong kiến cũ đã đẩy thân phận người phụ nữ xuống dưới cùng của xã hội. Họ dù có tốt đẹp đến mấy cũng không được công nhận, không được ai bênh vực, chở che. Thế nên, Vũ Nương chỉ còn một cách duy nhất để chứng mình được tấm lòng trong sạch của mình là cái chết.

Vũ Nương đã chết trong sự oan ức với nỗi tủi nhục và tổn thương vô cùng lớn lao, Nhưng vì phẩm giá cao quý và đức hạnh mà nàng có, Vũ Nương đã được các nàng tiên cứu giúp và cho hưởng một cuộc sống mới ở một nơi hoàn toàn mới, nơi không còn khổ đau và nước mắt, không còn những đa nghi hay lời cay đắng của thế gian trần tục. Nơi ấy chính là nơi mà người đức hạnh như nàng thuộc về.

Qua nhân vật Vũ Nương, Nguyễn Dữ đã vừa lên án chế độ xã hội phong kiến xưa đã đẩy người phụ nữ vào hoàn cảnh bất hạnh, đau thương, không cho họ có quyền được sống, được tự do. Ngược lại, người đàn ông luôn cậy quyền mà đàn áp phụ nữ. Mặt khác ông cũng ca ngợi những phẩm chất đạo đức cao quý của người phụ nữ truyền thống Việt Nam. Đó chính là tấm gương cho những người phụ nữ thế hệ sau noi theo. Sống hiền lành, tử tế, hết lòng thương yêu mọi người. Kết thúc có hậu của câu chuyện đã một lần nữa khẳng định quy luật bất di bất dịch của tự nhiên: ở hiền gặp lành. Vì vậy, em mong sao tất cả mọi người cùng nhau sống lành mạnh, giàu tình thương để cuộc sống này luôn được ấm êm, hạnh phúc.

Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương lớp 9 – Bài làm 8

Chuyện người con gái Nam Xương là một trong những tác phẩm tiêu biểu thời kì văn học trung đại. Bằng ngòi bút của nhà văn Nguyễn Dữ, xã hội phong kiến thối nát và đầy rẫy những bất công xưa kia được hiện lên với sự phê phán và niềm xót thương mạnh mẽ. Xã hội ấy đã đẩy người phụ nữ bất hạnh vào đường cùng oan khuất. Trong tác phẩm, Vũ Nương là nhân vật tiêu biểu cho người phụ nữ trong xã hội xưa.

Vũ Nương là đại diện cho người phụ nữ Việt Nam mang những vẻ đẹp phẩm chất cao quý: “thùy mị nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp”.Nàng là một người dịu dàng, đảm đang và có nhiều đức tính tốt đẹp. Kể từ khi lấy Trương Sinh, nàng ở nhà hết mực vun vén, chăm lo cho gia đình. Vũ Nương là người vợ hiền dâu thảo, thủy chung và yêu thương chồng thật lòng. Nàng dành mọi tâm ý của mình để gia đình được êm ấm và hạnh phúc. Thế nhưng, bất ngờ một biến cố đã xảy ra: Trương Sinh phải ra trận, trở thành một người lính, thực hiện nghĩa vụ bảo vệ đất nước. Ngày chia ly, Vũ Nương rót chén rượu đầy, bằng những lời xúc động chân tình, nàng cầu mong chồng được trở về bình yên. Đó là điều quan trọng nhất chứ không mong chờ vinh hiển phú quý: “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo ấn phong hầu, mặc áo gấm. trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi”. Vũ Nương là một người vợ tâm lý khi thấu hiểu những gian khổ mà Trương Sinh sắp phải đối mặt, từ đó càng thương và thông cảm cho chồng hơn “Chỉ e việc quân khó liệu, rồi thế chẻ tre chưa có”. Phút chia ly của người vợ tiễn chồng ra trận thật xúc động và thật lưu luyến.

Vũ Nương ở nhà vừa là người phụ nữ chăm sóc gia đình vừa thay chồng làm trụ cột gia đình. Nàng cố gắng thực hiện trọn vẹn nghĩa vụ của một người vợ hiền dâu thảo. “Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn đã từng nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót”. Ba năm dài đằng đẵng không có tin tức, Vũ Nương vẫn giản dị son sắt chờ chồng, ngày đêm mong ngóng chàng trở về. Nỗi nhớ nhung, lo lắng, khắc khoải hàng đêm của Vũ Nương chứng minh được rằng tình cảm của nàng dành cho Trương Sinh là chân thành và rất sâu đậm.

Vũ Nương còn là người mẹ hiền, dâu thảo. Sau khi Trương Sinh ra trận, nàng sinh hạ một đứa con. Đứa con lớn lên thiếu vắng bóng hình cha, một tay Vũ Nương chăm sóc và nuôi bé khôn lớn cho dù đó là giai đoạn khó khăn nhất. Thật vất vả khi một người phụ nữ mang nặng đẻ đau, tự mình chịu đựng và đồng thời còn chăm sóc, nuôi nấng cả một gia đình. Nàng không vì tất bật công việc mà bỏ bê phận làm dâu. Ngày ngày nàng chăm sóc mẹ chồng chu đáo, coi mẹ chồng như mẹ ruột. Điều đó làm mẹ chồng nàng xúc động và cũng yêu thương nàng như con ruột cho đến lúc lâm chung: “Một tấm thân tàn, nguy trong sớm tối, việc sống chết không thể phiền đến con… Sau này trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đầy đàn, trời xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ lòng mẹ”. Sau khi mẹ chồng mất, “nàng hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như đối với cha mẹ đẻ của mình”. Có thể nói nàng chính là một người phụ nữ vẹn toàn và tận tâm với gia đình.

Xem thêm:  Top 9 bài văn mẫu Nghị luận xã hội về câu Cái khó ló cái khôn lớp 9 chọn lọc

Vũ Nương là phận hồng nhan bạc mệnh. Nàng hiền lành, thủy chung, đảm đang và sống có tình có nghĩa là thế nhưng cũng không tránh khỏi số phận bất hạnh. Mong ước của nàng được thực hiện, Trương Sinh trở về bình an nhưng nàng có nào đâu ngờ rằng sự trở về ấy là bắt nguồn của một tấn bi kịch. Từ lời nói ngây thơ của con nhỏ mà tính gia trưởng mang đậm chất phong kiến trỗi dậy. Trương Sinh có lẽ đã quên vợ mình thủy chung thuần hậu như thế nào, sự ghen tuông và tính gia trưởng đã làm mờ mắt chàng. Mọi lời nói như vết dao cứa sâu vào Vũ Nương, thúc đẩy nàng tìm đến giải pháp là tuẫn tiết để minh chứng cho sự trong sạch. Nàng tự gieo mình xuống dòng sông Hoàng Giang khi tâm hồn còn vương vấn nỗi oan chưa được hóa giải. Cách giải quyết ấy không do chính Vũ Nương chọn lựa mà do xã hội bấy giờ đã nhẫn tâm đẩy nàng vào bước đường cùng . Qua đó ta cũng thấy được tư tưởng vô nhân đạo, trọng nam khinh nữ và coi thường người phụ nữ của xã hội xưa.

Ngày Trương Sinh biết mình đã nghi oan cho Vũ Nương thì đã quá muộn. Mọi sự hối hận của Trương Sinh đâu thể đánh đổi lại mạng sống của nàng được nữa. Vũ Nương chọn cách ở lại thủy cung, rời khỏi trần thế. Cái kết đầy tính hư ảo ấy là ước mong của Nguyễn Dữ dành cho những người phụ nữ có số phận bất hạnh. Trên thực tế, thân xác họ sau khi bị xã hội chà đạp áp bức sẽ chỉ còn về với đất mẹ. Vì vậy, Nguyễn Dữ tạo nên một cuộc đời mới tốt hơn cho họ dù chỉ là trong hư tưởng. Qua đó ta thấy được tấm lòng của một người tài đức Nguyễn Dữ khi ông đã thông cảm và tiếc thương cho họ mà không hề quay lưng chà đạp. Ta thấy được niềm tin, hy vọng của ông về một xã hội công bằng hơn, nơi không có những số phận bất hạnh như nhân vật Vũ Nương

Những ý nghĩa nhân sinh sâu sắc mà Nguyễn Dữ gửi gắm vào Chuyện người con gái Nam Xương, đã làm cho truyện trở thành một tác phẩm vĩnh cửu và có giá trị góp mặt vào vào kho tàng văn học Việt Nam. Truyện đã tô điểm thêm chân dung người phụ nữ Việt với những phẩm chất tốt đẹp trong cuộc đời bất hạnh của họ. Qua đó là lời phản ánh hiện thực xã hội bất công thời bấy giờ. Đọc truyện, ta thấy càng thêm đồng cảm, thương xót và trân trọng người phụ trong xã hội xưa.

Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương lớp 9 – Bài làm 9

Nhà văn Nguyễn Dữ là một học trò của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông quê ở Hải Dương, là nhà văn có nhiều đóng góp to lớn cho nền văn học trung đại Việt Nam. Một trong những sáng tác làm nên tên tuổi của Nguyễn Dữ đó là Truyền kì mạn lục. Đây là tác phẩm lớn gồm 20 câu chuyện nhỏ và nổi bật nhất là Chuyện người con gái Nam Xương. Đây là câu chuyện thứ 16 của Truyền kì mạn lục. Nội dung tác phẩm thể hiện niềm thương cảm sâu sắc của tác giả trước số phận bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến và đồng thời ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của họ. Nhân vật đại diện cho người phụ nữ xưa đó chính là Vũ Nương.

Vũ Nương là một người phụ nữ bình dân xuất thân trong một gia đình nghèo khó nhưng nàng lại hội tụ đủ những phẩm chất tốt đẹp. Nàng có tính tình nết na thùy mị lại thêm tư duy tốt đẹp, có nhan sắc lại có đức hạnh. Chính vì vậy mà nàng được mọi người yêu quý và đáng lý với một người phụ nữ như vậy thì phải được hưởng hạnh phúc viên mãn.

Nếu ai còn nhớ bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương thì hẳn sẽ thấy vẻ đẹp của Vũ Nương không khác gì với vẻ đẹp của chiếc bánh trôi vừa trắng lại vừa tròn. Chính vẻ đẹp ấy đã khiến cho Trương Sinh, một người con nhà hào phú đem lòng yêu mến và xin với mẹ trăm lạng vàng cưới nàng về làm vợ. Nếu chiếu theo thời ấy khi mà người ta thường hướng đến môn đăng hộ đối thì đây là một cuộc hôn nhân không bình đẳng. Là Trương Sinh bỏ tiền ra mua Vũ Nương về làm vợ chứ không phải cưới vợ. Không chỉ vậy, Trương Sinh còn là một người đa nghi và hay ghen. Thế nhưng về phần Vũ Nương, nàng vẫn tỏ ra mình là một người phụ nữ thông minh, đôn hậu. Biết chồng có tính đa nghi và hay ghen nên lúc nào Vũ Nương cũng giữ gìn khuôn khép, khéo léo trong việc vun vén hạnh phúc gia đình.

Vì đang là thời kì loạn lạc nên kết hôn chưa được bao lâu thì Trương Sinh phải tòng quân đi lính nơi biên ải. Khi tiễn chồng ra trận, nàng rót chén rượu đầy và chúc chồng bình yên trở về. Có thể thấy ước mong của nàng thật giản dị. Đối với nàng hạnh phúc gia đình quý hơn mọi công danh phù phiếm ở đời. Xa chồng, Vũ Nương thương nhớ khôn xiết mà mỗi khi bướm lượn đầy vườn mây che kín núi thì nỗi buồn chân trời góc bể lại không thể nào ngăn được.

Trong văn thơ xưa, ta cũng từng bắt gặp tâm trạng thương nhớ ấy. Chẳng hạn như trong bài Chinh phụ ngâm có câu:

Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời

Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu

Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong

Qua việc thể hiện tâm trạng của Vũ Nương, Nguyễn Dữ đã thể hiện sự cảm thông với nỗi đau xa cách chồng cùng với sự ngợi ca về tấm lòng chung thủy của người con gái ấy. Sau khi Trương Sinh đi lính, Vũ Nương ở nhà sinh con, một mình nuôi dạy con khôn lớn, chăm sóc mẹ chồng. Sợ con thiếu thốn tình cảm của cha, Vũ Nương đã chỉ vào cái bóng của mình trên tường và nói rằng đó là cha Đản. Đứa bé ngây thơ vẫn luôn tin đó là cha của mình, nhờ vậy mà nó lớn lên vô cùng hạnh phúc. Còn đối với mẹ chồng, khi bà già yếu nàng đã chăm sóc tận tình chu đáo, phụng dưỡng thuốc thang trong những ngày bà bị ốm chẳng khác nào chăm sóc cha mẹ đẻ.

Xưa kia, mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu thường không mấy tốt đẹp nhưng Vũ Nương lại được mẹ chồng ghi nhận. Trước khi qua đời bà đã trăn trối rằng Sau này trời xét lòng lành ban cho phúc đức giống dòng tốt tươi xanh kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ. Có thể nói Vũ Nương hội tụ đủ những phẩm chất công, dung, ngôn, hạnh của một người phụ nữ.

Người phụ nữ tận tụy chăm con, lo cho gia đình chỉ mong đến ngày chồng về để gia đình hoàn tụ, hạnh phúc. Nhưng đến khi người chồng trở về thì bi kịch của cuộc đời Vũ Nương bắt đầu ập đến. Đó là những trang buồn đầy nước mắt về cuộc đời bất công của Vũ Nương. Khi Trương Sinh trở về, vì chưa hiểu rõ sự tình về chuyện cái bóng mà vừa mới nghe một, hai câu kể của đứa còn ba tuổi đã vội nghi ngờ vợ không chung thủy và kết tội vợ. Đứng trước sự ngờ vực, quy kết của chồng, Vũ Nương đã bày tỏ lòng thủy chung qua những lời phân trần nhưng đều không được. Trương Sinh mắng nhiếc rồi đuổi nàng đi. Vũ Nương không còn cách nào khác nên đã mượn dòng nước quê hương để giãi tỏ nỗi lòng trong trắng của mình. Vũ Nương nhảy xuống sông tự vẫn để minh chứng cho sự thủy chung của mình.

Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương, ta thấy nàng thà chết trong còn hơn sống đục. Nguyễn Dữ với tấm lòng yêu thương con người không để cho sự trong sáng cao đẹp của Vũ Nương phải chịu oan khuất nên ông đã đưa vào chi tiết hoang đường kì ảo trong phần cuối chuyện. Khi hiểu ra nỗi oan khuất của vợ và nhận ra sai lầm của mình, Trương Sinh đã lập đàn giải oan cho vợ. Tuy nhiên, Vũ Nương đã mất đi quyền sống, quyền làm vợ, làm mẹ và quyền hạnh phúc. Cái bi kịch mà Vũ Nương phải trải qua là bi kịch chung của người phụ nữ xưa. Nó không chỉ dừng lại ở thời ấy mà dường như nó đã ám vào phận nữ nhi trong thiên hạ như Nguyễn Du cũng từng viết trong truyện Kiều:

Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung

Thương xót cho số phận người phụ nữ, Nguyễn Dữ cũng đồng thời lên án những thế lực tàn ác chà đạp lên những khát vọng chính đáng của con người, đặc biệt là của phụ nữ. Nguyễn Dữ tố cáo xã hội phong kiến với những hủ tục phi lý, lên án những con người ghen tuông mù quáng, vũ phu như Trương Sinh, lên án thế lực đồng tiền với những hủ tục lạc hậu. Bên cạnh đó, Nguyễn Dữ cũng tố cáo tội ác của chiến tranh đã khiến hạnh phúc gia đình tan vỡ.

Với sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố tự sự, trữ tình và yếu tố thực ảo, Chuyện người con gái Nam Xương đã mang đến cho người đọc những góc nhìn ấn tượng về cuộc đời. Số phận của nàng Vũ Nương có lẽ đã lấy đi nước mắt của không ít người.

cam nhan ve nhan vat vu nuong lop 9 - Top 10 bài văn mẫu Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương lớp 9 chọn lọc

Bài văn mẫu Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương lớp 9

Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương lớp 9 – Bài làm 10

Nguyễn Dữ sống ở thế kỷ XVI quê ở huyện Trường Tân nay là Thanh Miện – Hải Dương. Ông là học trò của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Các tác phẩm của ông đã đóng góp rất lớn cho nền văn học trung đại Việt Nam. Điển hình là “Truyền kỳ Mạn Lục” gồm có hai mươi câu chuyện nhỏ. Trong đó tiêu biểu là chuyện người con gái Nam Xương là câu chuyện thứ 16 của Truyền Kỳ Mạn Lục, được bắt đầu từ truyện “vợ chàng Trương”. Qua việc xây dựng hình tượng Vũ Nương với đầy đủ những phẩm chất tốt đẹp nhưng lại chịu nhiều oan khuất, Nguyễn Dữ đã bày tỏ lòng thương cảm với Vũ Nương, với những người có số phận hẩm hiu giống nàng.

Vũ Nương tên thật là Vũ Thị Thiết, quê ở Nam Xương thuộc phủ Lý Nhân, xuất thân trong một gia đình nghèo khó, vừa có nhan sắc lại có đầy đủ đức hạnh. Vì thế Trương Sinh con nhà hào phú đã xin mẹ trăm lạng vàng để cưới về.

Phẩm hạnh tốt đẹp của Vũ Nương được thể hiện rất rõ trong các mối quan hệ với gia đình. Trong cuộc sống vợ chồng, nàng cư xử rất đúng mực, nhường nhịn, luôn biết giữ gìn khuôn phép cho nên dù chồng đa nghi, đối với vợ phải phòng ngừa quá mức nhưng vợ chồng không bao giờ thất hoà. Như vậy dù cuộc hôn nhân không xuất phát từ tình yêu và có dấu hiệu mua bán nhưng gia đình luôn êm ấm bởi đức hạnh của Vũ Nương. Khi tiễn Trương Sinh đi lính, nàng rót chén rượu đầy dặn dò những lời tình nghĩa đằm thắm thiết tha: “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong được đeo ấn phong hầu, mặc áo gấm hoa trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi”. Lời tiễn biệt đó cho thấy nàng không trông mong vinh hiển mà chỉ cầu mong chàng bình yên trở về. Đó là mong ước giản dị, bình thường của người vợ, người phụ nữ luôn mong cuộc sống gia đình sum vầy, hạnh phúc. Không chỉ vậy, nàng còn biết cảm thông trước nỗi vất vả, gian lao mà người chồng phải chịu đựng khi ra chiến trường: “Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường. Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kì, khiến thiếp ôm nỗi quan hoài, mẹ hiền lo lắng”. Rồi nàng còn nói lên nỗi khắc khoải, nhớ nhung của mình trong những ngày chồng đi xa: “Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình, thương người đất thú. Dù có thư tín nghìn hàng, cũng không sợ có cánh hồng bay bổng”. Những câu văn biền ngẫu sóng đôi, cân xứng nhịp nhàng như nhịp đập thổn thức của trái tim người vợ trẻ, lời tiễn biệt ân tình thể hiện tình yêu thương chồng và niềm khát khao một mái ấm hạnh phúc. Xa chồng, Vũ Nương không lúc nào không nghĩ đến, không nhớ thương: “Ngày qua tháng lại, thoắt đã nửa năm, mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi thì nỗi buồn nơi góc bể chân trời không thể nào ngăn được”. Tác giả đã dùng những hình ảnh ước lệ, mượn cảnh vật thiên nhiên để diễn tả sự trôi chảy của thời gian. Thời gian trôi qua, không gian cảnh vật thay đổi, mùa xuân tươi vui đi qua, mùa đông ảm đạm lại đến còn lòng người thì dằng dặc một nỗi nhớ mong. Chi tiết nàng chỉ bóng mình trên tường và nói với con rằng “cha Đản lại đến” không chỉ muốn con ghi nhớ bóng hình người cha trong trái tim non nớt của nó, mà còn thể hiện tình cảm của nàng trước sau như một, gắn bó như hình với bóng. Nói với con như vậy để làm vơi đi nỗi nhớ thương chồng. Tâm trạng đó của Vũ Nương cũng là tâm trạng chung của những người vợ có chồng đi lính trong thời loạn lạc:

“Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời

Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu

Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong”

(Trích “Chinh phụ ngâm” – Đoàn Thị Điểm)

Không chỉ là một người vợ thủy chung mà Vũ Nương còn là người con dâu hiếu thảo. Khi chồng đi lính, nàng vẫn còn trẻ nhưng đã phải gánh vác mọi việc trong gia đình chồng. Trong xã hội, mối quan hệ mẹ chồng – nàng dâu rất khó dung hoà vậy mà Vũ Nương vẫn rất yêu quý, chăm sóc mẹ chồng như đối với cha mẹ đẻ của mình. Khi mẹ chồng ốm, nàng “hết sức thuốc thang và lễ bái thần phật, lấy lời ngọt ngào, khôn khéo, khuyên lơn”. Những lời nói dịu dàng, những cử chỉ ân vần của nàng thật đáng trân trọng. Đặc biệt lời trăn trối của bà mẹ chồng trước khi mất: “Ngắn dài có số, tươi héo bởi trời. Mẹ không phải không muốn đợi chồng con về, mà gượng cơm cháo. Song tuổi thọ có chừng, số trời khó tránh. Đêm tàn chuông đổ, số tận mệnh cùng; một tấm thân tàn, nguy trong sớm tối, không khỏi phải phiền đến con. Chồng con xa xôi, mẹ chết lúc nào, không thể kịp về đền báo được. Sau này trời giúp người lành, ban cho phúc trạch, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, mong ông xanh kia chẳng phụ con cũng như con đã chẳng nỡ phụ mẹ” là sự ghi nhận, đánh giá rất cao công lao của Vũ Nương đối với gia đình. Đặt trong xã hội lúc bấy giờ thì đây là lời đánh giá thật xác đáng và khách quan khiến ta cảm nhận được nét đẹp trong phẩm chất của Vũ Nương. Rồi đến khi mẹ chồng mất, nàng hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như cha mẹ ruột. Nàng làm những việc đó không chỉ vì bổn phận và trách nhiệm của người con dâu mà còn xuất phát từ lòng yêu thương, sự hiếu thảo mà nàng đã dành cho mẹ. Rõ ràng Vũ Nương là một người phụ nữ đảm đang, tháo vát. Trong cả ba tư cách: người vợ, người con, người mẹ, tư cách nào cũng nêu cao được đức hạnh của nàng: chung thủy, yêu thương chồng tha thiết, rất mực yêu thương con, hiếu thảo với mẹ chồng. Nàng là mẫu người phụ nữ lí tưởng trong xã hội phong kiến xưa, nàng xứng đáng được hưởng hạnh phúc bà được mọi người trân trọng.

Cứ ngỡ người phụ nữ như Vũ Nương sẽ có một cuộc sống hạnh phúc trọn vẹn, nhưng nàng lại vướng vào oan khuất đắng cay. Đó là khi Trương Sinh trở về, nghe lời con trẻ mà nghi nàng thất tiết và đã cư xử phũ phàng. Trước khi tự vẫn, nàng cố phân trần để chồng hiểu rõ tấm lòng mình. Nàng nói đến thân phận, tình nghĩa vợ chồng và khẳng định tấm lòng thủy chung của mình: “Thiếp vốn con kẻ khó, được lương tựa nhà giàu. Sum họp chưa thỏa tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh. Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót. Đâu có sự mất nết hư thân như lời chàng nói. Dám bày tỏ để cởi mối nghi nghờ. Mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp”. Những lời nói của nàng đều vì muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình đang có ngu cơ tan vỡ. Vũ Nương đã hết lời phân trần nhưng Trương Sinh không tin, vẫn mắng mỏ nàng thậm tệ và đánh đuổi nàng đi. Hạnh phúc gia đình – nỗi khao khát cả đời nàng đã tan vỡ, tình yêu không còn: “Nay đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió, khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân cái én lìa đàn, nước thẳm buồm sa, đâu còn có thể lại lên núi vọng phu kia nữa”. Cuộc hôn nhân đã không thể nào hàn gắn nổi. Bao công sức xây đắp tổ ấm đã trở nên vô nghĩa. Không thể nào giải được nỗi oan khuất, nàng tìm đến cái chết để bày tỏ tấm lòng mình: “Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám. Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu Mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ, và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ”. Lời than như một lời nguyền xin thần sông chứng giám cho nỗi oan khuất của nàng. Hành động trẫm mình xuống dưới sông Hoàng Giang là hành động cuối cùng để bảo toàn danh dự. Nàng tìm đến cái chết trong nỗi tuyệt vọng nhưng cũng có sự chỉ đạo của lí trí: nàng tắm gội chay sạch trước khi chết và cầu nguyện một cách thanh thoát.

Tuy nhiên Vũ Nương vì trong sáng, vô tội nên được Linh Phi cứu giúp đưa về động rùa. Ở dưới thủy cung, nàng có được một cuộc sống sung túc cùng các tiên nữ nhưng nàng vẫn không nguôi nỗi đau trần thế, nỗi nhớ gia đình, quê hương và đặc biệt luôn khao khát được phục hồi danh dự. Hình ảnh Vũ Nương trở về trong đàn tràng giải oan của Trương Sinh và lời nói vọng vào của nàng thể hiện nàng là người ân nghĩa thủy chung. Đàn tràng giải oan, sự ân hận muộn màng của Trương Sinh thể hiện tấm lòng vị tha cao thượng. Điều đó còn thể hiện ước mơ ngàn đời của nhân dân ta về lẽ công bằng, người tốt dù trải qua bao nhiêu oan khuất cuối cùng cũng được minh oan.

Truyện thành công nhờ việc sắp xếp các tình tiết hợp lí, cách tạo tình huống thắt nút, mở nút. Trên cơ sở cốt truyện có sẵn, tác giả sắp xếp thêm một số tình tiết, thêm bớt, tô đậm những tình tiết có ý nghĩa làm cho diễn biến hợp lí, tăng tính bi kịch làm câu chuyện trên hấp dẫn. Nguyễn Dữ đã khéo léo sử dụng các yếu tố kì ảo tạo kết thúc có hậu làm nổi bật vẻ đẹp của nhân vật chính.

Qua vẻ đẹp và bi kịch của Vũ Nương, Nguyễn Dữ đã lên án, tố cáo xã hội phong kiến xem trọng quyền uy của người giàu, người đàn ông, đồng thời thể hiện tấm lòng trân trọng của mình đối với người phụ nữ phải chịu nhiều bất hạnh thiệt thòi trong xã hội.

Trên đây là những bài văn mẫu Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương lớp 9 hay nhất. Thông qua những bài văn mẫu này chúng tôi tin chắc rằng các em sẽ có những cảm nhận được rõ hơn về nhân vật Vũ Nương và có thể làm tốt bài văn này.

Thu Thủy

Check Also

bai viet so 4 lop 10 de 3 thuyet minh ve mot kinh nghiem hoc van hoac lam van e1584264850645 310x165 - Top 10 bài văn mẫu Bài viết số 4 lớp 10 đề 3 Thuyết minh về một kinh nghiệm học văn hoặc làm văn lớp 10 chọn lọc

Top 10 bài văn mẫu Bài viết số 4 lớp 10 đề 3 Thuyết minh về một kinh nghiệm học văn hoặc làm văn lớp 10 chọn lọc

Hướng dẫn làm bài văn mẫu Bài viết số 4 lớp 10 đề 3 Thuyết …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *