Home / Giáo dục / Văn mẫu / Top 10 bài văn mẫu Bài viết số 3 lớp 9 đề 2: Kể về cuộc gặp gỡ với người lái xe tiểu đội xe không kính chọn lọc

Top 10 bài văn mẫu Bài viết số 3 lớp 9 đề 2: Kể về cuộc gặp gỡ với người lái xe tiểu đội xe không kính chọn lọc

Hướng dẫn làm bài văn mẫu Bài viết số 3 lớp 9 đề 2: Kể về cuộc gặp gỡ với người lái xe tiểu đội xe không kính hay nhất. Bài văn thuộc dạng văn kể chuyện tưởng tượng về một cuộc gặp gỡ với người lính lái xe.

Trong chương trình Ngữ Văn lớp 9 các em sẽ được học Bài thơ về tiểu đội xe không kính của nhà thơ Phạm Tiến Duật. Bài thơ mang đến cho chúng ta một góc nhìn rất mới mẻ về chiến tranh, về những người lính lái xe trong kháng chiến. Qua đây chúng ta cũng yêu thêm những người chiến sĩ lái xe của tiểu đội xe không kính. Cũng trong chương trình học các em sẽ gặp đề văn Kể về cuộc gặp gỡ với người lái xe tiểu đội xe không kính. Với đề văn này các em cần tưởng tượng ra câu chuyện gặp gỡ và dựa vào bài thơ để có thể đưa ra những đoạn đối thoại hấp dẫn. Dưới đây là bài văn mẫu Bài viết số 3 lớp 9 đề 2: Kể về cuộc gặp gỡ với người lái xe tiểu đội xe không kính hay nhất cho các em tham khảo.

Kể về cuộc gặp gỡ với người lái xe tiểu đội xe không kính – Bài làm 1

Nhân một chuyến đi thăm nghĩa trang liệt sĩ, tôi gặp người sĩ quan đang đứng thắp hương cho người đồng đội đã mất.Tôi và người sĩ quan đó trò chuyện rất vui vẻ và thật tình cờ tôi biết được người sĩ quan này chính là anh lính lái xe trong “Bài Thơ Về Tiểu Ðội Xe Không Kính” của Phạm Tiến Duật năm xưa.

Người sĩ quan kể với tôi rằng cuộc kháng chiến của dân tộc ta vô cùng ác liệt, những con đường huyết mạch nối giữa miền Nam và miền Bắc lại là nơi ác liệt nhất. Bom đạn của giặc Mỹ ngày đêm dội xuống những con đường này nhằm cắt đứt sự tiếp viện của miền Bắc cho miền Nam. Trong những ngày tháng đó anh chính là người lính lái xe làm nhiệm vụ vận chuyển lương thực, vũ khí, đạn dược… trên con đường TS này. Bom đạn của giặc Mỹ đã biến cho những chiếc xe của các anh không còn kính nữa. Nghe anh kể, tôi mới hiểu rõ hơn về sự gian khổ ác liệt mà những người lính lái xe phải chịu đựng ngày đêm. Nhưng không phải vì thế mà họ lùi bước, họ vẫn ung dung lái những chiếc xe không kính đó băng băng đi tới trên những chặng đường. Họ nhìn thấy đất, nhìn thấy trời, thấy cả ánh sao đêm, cả nhưng cánh chim sa, họ nhìn thẳng về phía trước, phía ấy là tương lai của đất nước được giải phóng, của nhân dân được hạnh phúc, tự do.

Người sĩ quan còn kể với tôi rằng không có kính cũng thật bất tiện nhưng họ vẫn lái những chiếc xe đó, bụi ùa vào làm những mái tóc đen xanh trở nên trắng xóa như người già, bọn họ cũng chưa cần rửa rồi nhìn nhau cất tiếng cười ha ha. Ôi! tiếng cười của họ sao thật nhẹ nhõm. Gian khổ ác liệt, bom đạn của kẻ thù đâu có làm họ nản chí, sờn lòng. Những chiếc xe không kính lại tiếp tục băng băng trên những tuyến đường ra trận, gặp mưa thì phải ướt áo thôi. Mưa cứ tuôn cứ xối nhưng họ vẫn chưa cần thay áo và cứ ráng lái thêm vài trăm cây số nữa, vượt qua những chặng đường ác liệt, đảm bảo an toàn cho những chuyến hàng rồi họ nghĩ mưa sẽ ngừng, gió sẽ lùa vào rối áo sẽ khô mau thôi.

Khi được học “Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính” tôi cứ luôn suy nghĩ rằng những khó khăn gian khổ ác liệt đó chỉ có nhân vật trong bài thơ mới vượt qua được nhưng đó là những suy nghĩ sai lầm của tôi bởi được gặp, được trò chuyện với người chiến sĩ lái xe năm xưa, tôi mới hiếu rõ hơn về họ. Họ vẫn vui tươi, tinh nghịch. Bom đạn của giặc Mỹ ngày đêm nổ sát bên tai phá hủy con đường, cái chết luôn rình rập bên họ nhưng họ vẫn là những con người lạc quan, yêu đời. Anh sĩ quan lại kể cho tôi nghe trên những cung đường vận chuyển đó anh luôn được gặp những người bạn, những người đồng đội của anh. Có những người còn, có những người đã hy sinh… Trong những giây phút gặp gỡ hiểm hoi đó, cái vắt tay qua ô cửa kính vỡ đã làm cho tình đồng đội của họ thấm thiết hơn rồi những bữa cơm bên bếp Hoàng Cầm với những cái bát, đôi đũa dùng chung, quây quần bên nhau như một đại gia đình của những người lính lái xe TS. Rồi những giây phút nghỉ ngơi trên chiếc võng đu đưa, kể cho nhau nghe sự ác liệt của những cung đường đã đi qua.

Sự dũng cảm của các cô gái thanh niên xung phong luôn đảm bảo cho những chuyến xe thông suốt. Đúng là con đường của họ đang đi, nhiệm vụ của họ đang làm vô vùng nguy hiểm. Bom đạn Mỹ hạ xuống bất cứ lúc nào, cả ngày lẫn đêm. Anh sĩ quan còn nói cho tôi biết những chiếc xe ấy không chỉ mất kính mà còn mất cả đèn, rồi không có mui xe, thùng xe rách xước, những thiếu thốn này không ngăn cản được những chiếc xe vẫn chạy băng băng về phía trước, phía trước ấy là miền Nam ruột thịt. Nghĩ đến hình ảnh những chiếc xe băng băng về phía trước tôi lại nghĩ đến những người lính lái xe. Họ thật dũng cảm, hiên ngang, đầy lạc quan, có chút ngang tàng nhưng họ sống và chiến đấu vì Tổ Quốc, vì nhân dân. Những chuyến hàng của họ đã góp phần tạo nên chiến thắng của dân tộc ta: chiến thắng mùa xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Tôi và anh sĩ quan chia tay nhau sau cuộc gặp gỡ và nói chuyện rất vui. Tôi khâm phục những người lính lái xe bởi tình yêu nước, ý chí kiên cường của họ và tôi hiểu rằng thế hệ chúng tôi luôn phải ghi nhớ công ơn của họ, cần phải phấn đấu trở thành công dân gương mẫu, nắm vững khoa học, kĩ thuật để xây dựng một đất nước văn minh, hiện đại.

ke ve cuoc gap go voi nguoi linh lai xe tieu doi xe khong kinh 2 - Top 10 bài văn mẫu Bài viết số 3 lớp 9 đề 2: Kể về cuộc gặp gỡ với người lái xe tiểu đội xe không kính chọn lọc

Bài văn hay Kể về cuộc gặp gỡ với người lái xe tiểu đội xe không kính

Kể về cuộc gặp gỡ với người lái xe tiểu đội xe không kính – Bài làm 2

Hôm ấy, nhân ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12, trường tôi tổ chức cho đi thăm quan Bảo tàng Lịch sử quân đội. Chúng tôi được chiêm ngưỡng biết bao hiện vật lịch sử: những khẩu súng trường, mảnh vỡ của bom đạn, cùng với chiếc mũ tai bèo, chiếc ba lô con cóc thân thương… Đang tham quan, tôi nhìn thấy một chiếc xe tải, không kính nằm thu mình ở một góc nhỏ.”Không có kính không phải vì xe không có kính…”, bất chợt những tứ thơ khẩu ngữ, khỏe khoắn từ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” ấy vang lên trong thâm tâm tôi. “Liệu đây có phải là cái xe ấy không?”, đang băn khoăn, tôi bỗng thấy một bác mặt áo bộ đội, đứng từ xa lặng lẽ quan sát xe. Từ từ bước đến bên, tôi lặp bắp hỏi: “Bác là người lái chiếc xe này đó ư?”. Bác quay sang tôi, mỉm cười: “Ừ, bác là lính Trường Sơn năm xưa cháu ạ”…

Bác dẫn tôi tới quan sát chiếc xe gần hơn; lần đầu tiên, tôi được chiêm ngưỡng tận mắt một chiếc xe tải quân sự. Quả lả một chiếc xe “trần trụi”: không có kính, lại không có cả đèn, không có mui, thùng xe lại còn xước. Sinh ra và lớn lên tại thủ đô trong thời bình, từ bé tôi chỉ bắt gặp những chiếc ô tô lành lặn, nước sơn sạch bóng, nội thất khang trang; không ngờ một chiếc xe tróc sơn, hỏng hóc nặng nề như thế này vẫn có thể hiên ngang lướt đi và mang theo biết bao súng đạn, lương thực chi viện. Thật là một chuyển động kì diệu! Đang tròn mắt ngạc nhiên vì thán phục, bỗng bác chiến sĩ vỗ vai tôi, trầm giọng kể: “Chiến trường khốc liệt lắm cháu ạ! Hằng ngày máy bay Mĩ trút hàng ngàn tấn bom đạn cày xới, phá hoại Trường Sơn hòng cắt đứt chi viện của ta. Các trọng điểm lúc nào cũng mịt mù khói lửa, bom rơi.

Ngày qua ngày, xe luôn phải chịu những chấn động, rung xóc dữ dội”. À đúng rồi, tại đế quốc Mĩ xâm lược, tàn phá mà chiếc xe mới trở nên tan hoang. Tôi rùng mình trước cuộc chiến thật vô cùng gian nan, khốc liệt…Khuôn mặt bác trầm ngâm, đôi mắt hướng về chiếc xe một cách xa xăm. Bỗng bác vụt giọng vui vẻ: “Nhưng mà xe không kính hóa ra cũng có cái hay. Ta ung dung ngồi trong buồng lái, thoải mái phóng tầm mắt ra xung quanh mà nhìn trời, ngắm đất, chiêm ngưỡng vẻ đẹp hoang sơ mà hùng vĩ của rừng núi Trường Sơn. Không có kính mà, gió cứ đùa chơi trong cabin, xoa vào đắng mắt. Nhưng càng hòa mình vào thiên nhiên đất nước, bác lại càng thấy lòng mình sục sôi bầu nhiệt huyết và lạc quan; lúc đó con đường khúc khuỷu ngoặt ngoèo vẫn còn đầy những chông gai phía trước, dường như rộng mở và tươi sáng hơn. Nó như chạy thẳng vào con tim, khiến bác vừa hứng khởi hân hoan, lại vừa lao xao hồi hộp. Bác nhìn thấy cả những cánh chim bay về tổ ban chiều; khi đó tâm trí lại bồi hồi, xao xuyến nhớ về cha mẹ, quê hương. Màn đêm buông xuống, tuy không có đèn pha phía trước, nhưng trên bầu trời vẫn có những vì sao rọi sáng, soi đường dẫn lối cho xe bác qua. Hướng mắt tới những ngôi sao xa xôi, bác nao lòng nghĩ đến miền Nam ruột thịt đang mong đợi. Ôi, cháu ơi, mọi thứ xung quanh cứ như sa, như ùa vào buồng lái”. Tôi háo hức nghe bác kể chuyện. Những người chiến sĩ lái xe quả thật kiên cường, dũng cảm.

Dù cho có ở trong chiến tranh khốc liệt, họ vẫn tràn đầy khí thế ung dung, lạc quan, thư thái thả mình vào vẻ đẹp huyền diệu của núi rừng, để cho tâm hồn dạt dào, trào dâng bao lãng mạn… Chợt nhớ ra những ý thơ “Không có…ừ thì…”, tôi hỏi: “Thế không có kính, bác đối chọi với thiên nhiên thời tiết ra sao?”. Bác liền cười: “Cứ mặc kệ nó thôi, cháu ạ. Không có kính, ừ thì bụi thật đấy. Bụi bẩn bắn từ đường lên sạm hết cả mặt, đến mái tóc đen cũng trở nên trắng xóa như cụ già. Nhưng cứ để nguyên; phì phèo châm điếu thuốc, thấy mặt cứ ngồ ngộ, là lạ, bác bỗng bật cười. Khuôn mặt lấm cát bụi hóa ra lại vui! Thế rồi cả những khi mưa to, đường rừng trở nên trơn trượt, lầy lội khiến bác dán mắt vào từng đoạn đường, lái xe cẩn thận hơn; nhưng cùng lúc đó, mưa tuôn mưa xối qua chiếc cửa kính vỡ kia làm bác ướt hết cả áo quần, mặt mũi. Trên đỉnh Trường Sơn này, có lúc mưa lâm râm, nhưng nhiều khi lại trút xuống ào ào, thối đất thối cát.

Ô hay, mặt bác đã được rửa sạch trơn, nhưng áo quần lại ướt như chuột lột. Nhưng còn tâm trí đâu mà để ý đến những cái đó nữa. Mắt còn mải mê với những cung đường ghập ghềnh khúc khuỷu, con tim đập rộn ràng thúc giục vì miền Nam, bác tự nhiên quên đi gian khổ. Mà lái trăm cây số nữa, kiểu gì mưa chả phải ngừng; nắng lên, gió lùa vào buồng lái, áo khô mau thôi!”. Nụ cười rạng rỡ của bác làm cho tôi khâm phục.

Nụ cười ấy đã hiên ngang trong phong ba bão táp; kiên cường, dũng cảm bất chấp thời tiết khắc nghiệt, những cung đường thử thách gian lao. Vì lí tưởng sống cao đẹp, vì tiếng gọi của Tổ quốc thiêng liêng, các bác sẵn sàng chiến đấu, quên đi tất cả. Thế rồi tôi lại hỏi: “Lái xe giữa rừng một mình thế này, bác có cảm thấy cô đơn không?”. Bác lại bật cười: “Làm sao mà cô đơn được hả cháu? Bên bác còn có trời đất, núi rừng Trường Sơn nữa cơ mà. Với lại có phải một mình bác lái xe đâu, trên tuyến đường này vẫn còn biết bao nhiêu chiếc xe khác ngày đêm chuyên chở vũ khí, lương thực.

Anh em đồng chí gặp nhau suốt dọc đường đi tới, trao cho nhau cái bắt tay. Chỉ một cái bắt tay chớp nhoáng qua ô cửa kính vỡ kia thôi, vậy mà khiến bác ấm áp cả con người, như được tiếp thêm niềm tin và sức mạnh. Xe lại tiếp tục chạy, bầu trời càng tươi xanh. Và rồi khi nghỉ giữa chặng xe, bác còn được quây quần bên bạn bè, đồng đội. Bên bếp Hoàng Cầm, cùng chung bát đũa, mọi người thân tình, cởi mở, sẻ chia những vui buồn cho nhau.

Nhiều khi tất cả cùng ca hát, mỉm cười rồi vỗ tay, truyền cho nhau nhiệt tình cách mạng và yêu thương, xua tan đi khó nhọc. Tình đồng chí, đồng đội thật đẹp quá, cháu ạ!”. Đúng là đẹp thật! Quả đúng là “Chỉ cần trong xe có một trái tim”! Những người chiến sĩ cùng chung niềm tin, lí tưởng, sát cánh bên nhau. Họ truyền sức mạnh và hơi ấm cho nhau, để cùng nhau chiến đấu vì miền Nam ruột thịt. Hình ảnh người lính lái xe thật sinh động.

Kể về cuộc gặp gỡ với người lái xe tiểu đội xe không kính – Bài làm 3

Sáng thứ hai vừa qua chúng tôi vừa học xong bài “Bài thơ về tiểu đội xe không kính là một bài thơ hay và ý nghĩa. Trong bài thơ tôi ấn tượng nhất với những người lính lái xe. Ngay tối hôm ấy, trong giấc mơ của mình tôi đã mơ thấy mình gặp gỡ với những người lính lái xe. Sau đây tôi xin kể lại giấc mơ đó cho các bạn cùng nghe.

Tôi mơ thấy mình đang đi trên con đường Trường Sơn đầy nắng và gió cũng như đầy mưa bom bão đạn thì thấy một đoàn xe không kính trở hàng tri viện cho chiến trường miền Nam đi qua đậu đậu ở bên đường và có khoảng hơn mười người lính lái xe. Tôi thầm nghĩ: “Chắc các anh dừng lại để nghỉ ngơi”. Tôi liền nhanh chân chạy đến và cất tiếng hỏi:

-Em chào các anh ạ

Có một anh lính lái xe nhanh miệng liền nói:

-Ừ anh chào em.

Một anh đưa cho tôi cốc nước và bảo tôi ngồi xuống. Tôi đỡ lấy và ngồi xuống trò chuyện với các anh. Một anh trẻ nhất đã hỏi tôi:

-Em tên là gì? Đã học lớp mấy và học có giỏi không?

Tôi không ngần ngại gì mà mạnh dạn trả lời:

-Dạ em tên là Ngọc Hân ạ năm nay em học lớp 9 trường Trung học cơ sở Trần Văn Trỗi. Em học cũng bình thường thôi ạ.

Nhìn vẻ mặt của tôi một anh liền hỏi:

-Nhìn em chắc có gì băn khoăn và có điều muốn hỏi các anh phải không?

Tôi liền chỉ vào những chiếc xe kia và nói rằng:

-Em rất ngạc nhiên vì những chiếc xe kia đều không có kính. Tại sao nó lại không có kính vậy các anh?

-À là vì bão đạn đó. Trước kia chúng đều là những chiếc xe lành lặn, nguyên vẹn không thiếu một bộ phận nào đâu nhưng trên đường đi vào chiến trường miền Nam tri viện cho chiến trường thò các anh gặp một số trục trặc nhỏ đó là những viên đạn của địch rơi trúng những tấm kính xe đó.

Nghe xong câu trả lời ấy của anh mà tôi thầm nghĩ: “Gặp đạn trên đường mà các anh cũng coi là nhỏ. Quả là những tình huống nguy hiểm đến tính mạng. Các anh quả là những người có tinh thần thép.”

Xem thêm:  Top 10 bài văn mẫu kể về một ngày hội mà em biết lớp 3 chọn lọc

Lúc đó có một anh lính liền nói tiếp:

-Không có kính cũng có những điều thú vị của nó. Ngồi trên xe các anh vẫn ngồi đàng hoàng thỏa sức nhìn cảnh đẹp xung quanh, ngắm nhìn đất trời và luôn luôn nhìn thẳng vào con đường phía trước để giữ an toàn cho những chuyến xe. Hình ảnh con đường luôn in đậm trong tâm trí các anh. Lúc lái xe vào ban đêm có ảm giác sao trời rất gần cũng cảm thấy rất thú vị vì có những cánh chim bay vào buồng lái.

Lúc đó tôi reo lên:

-Ôi thật thú vị làm sao. Em ước gì cũng có thể lái xe như các anh.

Anh nhìn tôi bằng ánh mắt trìu mến, vỗ vai tôi và nói:

-Lái xe không có kính tuy rất thú vị nhưng cũng trải qua rất nhiều khó khăn, gian khổ. Xe không kính thì gió chạy vào mắt làm mắt cay có khi chảy nước mắt. Đôi khi còn có bụi làm bẩn mặt, bẩn tóc. Và có cả những cơn mưa rào làm ướt áo nhưng các anh vẫn chưa cần rửa, cần thay mà vẫn lái trăm cây số nữa để đưa các chuyến hàng an toàn vào miền Nam.

Dù các anh không kể ra những tôi vẫn còn cảm thấy trên đoạn đường ấy cũng gặp nhiều vô vàn khó khăn gian khổ, phải trải qua những trận mưa bom ác liệt. Lúc đó tôi rất khâm phục các anh vì rất kiên cường trải qua mà đặt sự an toàn của những chuyến hàng lên trên tính mạng của bản thân.

Trò chuyện được một lúc thì các anh cùng nhau làm cái bếp tôi nghe một cái tên Hoàng Cầm thật là hay. Và tôi cũng được mời đến ăn cùng các anh. Bữa ăn tuy ít ỏi, rau cũng thiếu nhưng tôi lại cảm nhận được sự vui vẻ ấm cúng của bữa cơm này như là một gia đình thực sự vậy. Tôi thầm nghĩ “Phải chăng đó là sự gắn bó sẻ chia của tình đồng chí đồng đội”. Ăn xong các anh nằm nghỉ trên chiếc võng mắc tạm bên hai gốc cây. Bỗng giọng nói của người đội trưởng vang lên:

-Lên đường thôi các đồng chí ơi!

Thật là nhanh các anh khẩn trương thu dọn đồ để tiếp tục hành trình của mình. Lúc đó có một anh nói với tôi:

-Chúc em ở lại mạnh khỏe và học giỏi nhé.

-Em cũng chúc các anh lên đường bình an.

Cả đoàn xe bắt đầu nổ máy lên đường. Tôi đứng sau nhìn các anh cho đến khi những chiếc xe đó khuất dần sau cánh rừng. Lúc đó nghe tiếng mẹ gọi bên tai thì tôi giật mình tỉnh giấc. Thì ra đó chỉ là một giấc mơ.

Tuy là mơ nhưng tôi cảm thấy rất vui vài được trò chuyện với các anh lính lái xe. Tôi tự nhủ với bản thân mình rằng phải cố gắng học hành chăm chỉ để không phụ sự hi sinh của các anh.

Kể về cuộc gặp gỡ với người lái xe tiểu đội xe không kính – Bài làm 4

Nhân dịp nhà trường tổ chức sang nghĩa trang liệt sĩ thắp hương lúc đó tôi đã gặp một người sĩ quan đang đứng thắp hương cho người đồng đội đã hi sinh vì tổ quốc. Tôi và người sĩ quan này trò chuyện rất vui và thật tình cờ tôi biết được người sĩ quan này chính là anh lính lái xe trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật.

Người sĩ quan kể với tôi rằng cuộc kháng chiến của dân tộc ta vô cùng ác liệt, trên những con đường huyết mạch nối giữa miền Bắc-Nam là nơi ác liệt nhất.Bom đạn của giặc Mĩ ngày đêm dội xuống những chặn đường này nhằm cắt đứt sự tiếp viện giữa miền Bắc-Nam. Trong những ngày đó anh chính là người lính lái xe làm nhiệm vụ vận chuyển lương thực,thực phẩm, vũ khí… Trên con đường Trường Sơn này. Bom đạn của kẻ thù đã làm cho những chiếc xe của các anh không còn kính nữa nghe anh kể, tôi mới hiểu rõ hơn về sự gian khổ mà người lính đã phải chịu đựng ngày đêm. Nhưng không phải vì điều đó mà họ lùi bước họ vẫn ung dung lái những chiếc xe không kính đó băng băng đi tới trên những chặn đường. Họ nhìn thấy đất, thấy trời thấy cả ánh sao đêm, cả những cánh chim sa họ nhìn thẳng về phía trước, nơi đó là những tương lai của đất nước được giải phóng, nhân dân được hạnh phúc, ấm no, tự do. Anh lái xe kể với tôi rằng xe không có kính cũng thật bất tiện nhưng họ vẫn chịu đựng lái xe ngày đêm, những hạt mưa sa, hạt bụi bay vào làm cho những mái tóc đen xanh trở thành trắng xóa như người già,họ cũng chưa cần rửa nhìn nhau cất tiếng cười ha ha. Ôi! sao tiếng cười của họ nhẹ nhõm làm sao. Gian khổ ác liệt bom đạn của kẻ thù đâu đâu cũng có cũng không làm cho họ rờn lòng. Những chiếc xe không kính lại tiếp tục băng băng trên những tuyến đường ra trận, gặp mưa thì phải ướt áo thôi. Mưa cứ tuôn cứ xối nhưng họ vẫn chưa cần thay áo và cố gắng lái thêm vài trăm cây số nữa, vượt qua những chặn đường bom đạn, ác liệt, bảo đảm cho an toàn những chuyến hàng rồi họ nghĩ mưa sẽ ngừng, gió sẽ lùa rồi áo sẽ mau khô thôi. Khi đọc Bài thơ về tiểu đội xe không kính tôi nghĩ rằng những khó khăn gian khổ ác liệt đó chỉ có trong các nhân vật truyện cổ tích, bài thơ vượt qua được nhưng đó là những suy nghĩ sai lầm của tôi bởi được gặp, được trò chuyện với những người lái xe năm xưa tôi mới hiểu rõ hơn về họ.Họ vẫn vui tươi tinh nghịch,những tiếng bom đạn ngày đêm vẫn luân nổ bên tai, phá huỷ con đường cái chết luân rình rập bên họ nhưng họ vẫn lạc quan, yêu đời.

Anh lái xe kể với tôi nghe những con đường vận chuyển, họ còn được gặp những đồng đội của mình,có cả những người lính đã hi sinh… Những phút giây gặp lại hiến hoi đó cái bắt tay qua cửa kính đã vỡ đã làm cho tình cảm của họ trở lên thấm thía hơn rồi những bữa cơm trên bến Hoàng Cầm với những cái bát, đôi đũa dùng chung quây quần bên nhau như một đại gia đình của những người lính lái xe Trường Sơn. Rồi những phút giây nghỉ ngơi trên những chiếc võng đu đưa. Anh sĩ quan còn nói cho tôi biết chiếc xe không những không có kính mà xe còn không có đèn, không có mui xe thùng xe có xước những thiếu thốn này không ngăn cản được họ những chiếc xe băng băng đi về phía trước vì miền Nam ruột thịt họ đầy dũng cảm, lạc quan nhưng họ vẫn sống và chiến đấu vì tổ quốc vì nhân dân. Những chuyến hàng của họ đã góp phàn tạo nên chiến thắng mùa xuân năm 1975 giải phóng miền nam đất nước thống nhất.

Tôi và anh lái xe chia tay nhau sau cuộc gặp gỡ đó và nói chuyện rất vui.tôi khâm phục những người lính lái xe bởi tình yêu nước, ý chí kiên cường của họ, chúng ta luân ghi nhớ công lao to lớn của họ, chúng ta càn phải phấn đấu nhiều hơn nữa.

Kể về cuộc gặp gỡ với người lái xe tiểu đội xe không kính – Bài làm 5

Giấc mơ đưa tôi đến một khu rừng thật heo hút., xa lạ. Nơi đây mới vắng vẻ làm sao. Tôi giật mình ngơ ngác bởi không gian của khói đen mù mịt và những ngọn lửa cháy bập bùng nơi xa tít. Không biết đây là đâu mà xa lạ vậy? Trái tim tôi như hoang mang, lo sợ. Tôi giật bắn người khi có một bàn tay chắc nịch đặt lên vai tôi. Tôi quay người lại. Trước mắt tôi là môt chú bộ đôi ăn vận với ngôi sao trên mũ và quân hàm trên vai. Chú có nước da bánh mật khuôn mặt vuông vắn và đầy nghiêm nghị. Chú hỏi tôi với giọng nói ân cần: “Cháu đi đâu mà lạc vào rừng Trường Sơn lửa đạn? Nơi chỉ dành cho chiến tranh, cho cuộc hành quân thần tốc?”

Tôi trả lời chú: “Cháu chẳng biết đây là đâu cả. Mong chú giúp cháu trở về. Nhưng… hình như cháu đã gặp chú ở đâu rồi hay sao mà nhìn chú quen thế?”

Chú mỉm cười và nói: “Chú là Phạm Quốc Khánh, là người lính lái xe trong tiểu đội xe Trường Sơn. Nhiệm vụ của các chú là chuyên chở lương thực, vũ khí? đạn dược và cả con người nữa để chi viện cho miền Nam chống Mĩ. Cháu nhìn quang cảnh nơi đây mà xem, những cảnh rừng bạt ngàn màu xanh nay đã trở thành xơ xác. Những thân cây dưới bom đạn nằm lăn lóc. Những hố bom khổng lồ – vết tích của chiến tranh. Và cháu hãy hướng con mắt về phía đằng xa kia, cháu sẽ thấy đoàn xe của các chú đang tạm nghỉ cho các đồng chí sinh hoạt bữa tối.”

Chú ấy dẫn tôi từ từ tiến đến đoàn xe. Tôi lễ phép chào hỏi các chú bộ đội, Tất cả mọi ugười cười nói vui vẻ và ngồi xuống mời tôi cùng ăn bữa tối. Sau bữa ăn, tôi được chú Khánh đưa tôi đi quan sát những chiếc xe. Tôi nhận ra ngay cửa kính của những chiếc xe đã vỡ nát, chúng dường như biến dạng, tôi liền hỏi: “Sao xe lại không có kính và biến dạng vậy chú?”

Chú liền trả lời tôi: “Tất cả đều là hậu quả của chiến tranh. Bom Mĩ đã làm vỡ kính xe, làm những chiếc xe bị hủy hoại.”

Tôi hỏi lại ngay: “Vậy là công việc của các chú rất vất vả, nhọc nhằn. Các chú chắc hẳn gặp nhiều khó khăn lắm?”

“Đúng thế. Không có kính đi đường rất bụi, ai nhìn tóc cũng trắng như người già vậy – chú vừa nói vừa mỉm cười – nhưng các chú vẫn cùng châm điếu thuốc, nhìn khuôn mặt lấm lem của nhau mà cười.”

Và chú kể tiếp sự vất vả cùa những ngày mưa: “Những ngày có mưa mới cực. Mưa rất xối xả vào buồng lái. Các chú ai nấy đều ướt sũng hết cả. Nhưng các chú không chịu đầu hàng, các chú vẫn lái xe. Rồi mưa sẽ qua, quần áo khô lại nhanh thôi mà.” Nói đến đây tôi thấy thương các chú quá. Ngày ngày các chú vẫn kiên trì lái xe chi viện cho miền Nam bất kể mưa hay nắng. Các chú đã quá vất vả, gian lao. Tôi đang suy nghĩ thì chú nói tiếp: “Tuy vất vả nhưng chú vẫn thấy hạnh phúc khi được sống, được chiến đấu với các đồng đội của mình. Những chiếc xe vượt qua bom đạn đã hội tụ về đây. Bạn bè các chú bắt tay nhau cũng là qua ô cửa kính đã vỡ rồi. Các chú dùng bếp ăn, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi. Những ngày tháng mắc võng chông chênh giữa rừng, làm sao chú quên được? Các chú vẫn đi, bầu trời như rộng mở.”

Tôi đi vòng quanh ngắm nghía những chiếc xe. Xe không có đèn, không có mui, rồi thùng xe xước. Tôi hỏi chú Khánh: “Những chiếc xe đã hỏng quá rồi, chú nhỉ?”

“Ừ! Khó khăn là vậy nhưng các chú vẫn không nề hà – chú nói, ánh mắt sáng lên niềm tin và hi vọng. Các chú vẫn cứ đi, vì miền Nam, vì thống nhất đất nước. Chỉ cần quyết tâm, các chú sẽ vượt lên tất cả, hoàn thanh tốt nhiệm vụ của mình.”

Nói đến đây, tôi không cầm được lòng mình. Tôi chạy tới, ôm chầm lấy chú:” Các chú thật kiên cường! Cháu rất khâm phục các chú. Vượt lên tất cả, các chú luôn lo cho đát nước. Thất đáng tự hào vì các chú. Chúng ta nhất định sẽ thắng lợi, chú ạ.”

Chú nắm chặt lấy tay tôi: “Chắc chắn là như vậy. Đát nước sẽ sớm hòa bình cháu ạ.”

Vừa nói đến đây, tiếng gọi của mẹ làm tôi thức giấc: “Học xong chưa? Tắt điện ngủ thôi con!”

Tôi choàng tỉnh giấc. Tôi nghĩ lại về giấc mơ của mình. Tôi vẫn cảm nhận được sự ấm áp của bàn tay chú Khanh khi chú nắm tay tôi. Câu chuyện thật hay va cảm động.

Qua giấc mơ, tôi như hiểu thêm về những ngườ lính bộ độ cụ hồ anh dũng trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Con người Việt Nam là vậy: Không bao giờ khuất phục trước chiến tranh. Tôi nghĩ về mình. Tôi cũng phải như các chú ấy, luôn cống hiến hết mình cho đất nước. Tôi sẽ cố gắng học tập để noi gương các chú, đưa đất nước Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu, như lời Bác đã dạy.

ke ve cuoc gap go voi nguoi linh lai xe tieu doi xe khong kinh 1 - Top 10 bài văn mẫu Bài viết số 3 lớp 9 đề 2: Kể về cuộc gặp gỡ với người lái xe tiểu đội xe không kính chọn lọc

Những bài văn mẫu Kể về cuộc gặp gỡ với người lái xe tiểu độ xe không kính

Kể về cuộc gặp gỡ với người lái xe tiểu đội xe không kính – Bài làm 6

Nhân dịp kỉ niệm ngày thành lập quân đội nhân dân và quốc phòng toàn dân, ngày 22 tháng 12, để chúng tôi hiểu thêm về lịch sử chiến đấu của dân tộc, nhà trường đã mời đoàn cựu chiến binh về thăm và trò chuyện. Trong đoàn đại biểu đó, tôi bắt gặp một người lính trên ngực gắn nhiều huân chương và trong buổi lễ chú đã giới thiệu mình là người lính lái xe trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật. Cuối buổi, tôi đã lân la đến gặp và có cuộc nói chuyện thú vị với chú.

Các bạn có lẽ không thể hình dung được, người chiến sĩ lái xe trẻ trung, sôi nổi năm xưa giờ đĩnh đạc, oai nghiêm trong bộ quân phục mới. Chú có giọng nói khoẻ, ấm áp và tiếng cười âm vang. Cùng tháng năm, khuôn mặt tuy đã già dặn nhưng vẫn có vẻ hóm hỉnh, yêu đời của người lính. Qua trò chuyện, có thể thấy chú là người rất vui tính, nhiệt tình, đặc biệt là khi chú kể cho tôi về cuộc đời người lính trên tuyến đường Trường Sơn năm ấy. Chú kể với tôi, năm 1969 là năm chú thường cùng các anh em trong tiểu đội lái xe qua đây, cũng là năm mà Mĩ đánh phá rất ác liệt trên tuyến đường này. Bởi đường Trường Sơn, tuyến đường Hồ Chí Minh lịch sử là tuyến đường quan trọng nhất, là đầu mối giao thông, liên lạc hai miền Bắc – Nam.

Chúng quyết phá cho bằng được. Chúng thả hàng ngàn tấn bom, cày xới những khung đường, đốt cháy những khu rừng. Hàng nghìn cây đã đổ, muông thú mất chỗ ở. Đã có nhiều người ngã xuống để bảo vệ con đường. Tuy Mĩ đánh phá ác liệt thật, nhưng những đoàn xe vận tải vẫn ngày đêm nối đuôi nhau trên con đường, đem theo bao lương thực, vũ khí đạn dược cho chiến trường miền Nam. Kể một lúc, chú lại mỉm cười và nói với tôi:

–   Cháu thấy đấy, cuộc chiến đấu của các chú trải qua biết bao gian khổ, khó khăn. Những năm tháng ác liệt đó đã khắc hoạ cả một thời kỳ lịch sử của dân tộc ta oanh liệt hào hùng. Trên tuyến đường Trường Sơn giặc Mĩ đánh phá vô cùng ác liệt; bom Mĩ cày xới đất đai, phá hỏng những con đường, đốt cháy những cánh rừng, phá huỷ biết bao nhiêu những rừng cây là lá chắn của ta. Nhưng không vì “bom rơi đạn lạc” như vậy mà các chú lùi ý chí, các đoàn xe tải ngày đêm nối đuôi nhau ra tiền tuyến, các chú còn phải đi trong bóng đêm theo sự hướng dẫn của các cô thanh niên xung phong để tiến về phía trước trong màn đêm sâu thẳm của rừng hoang. Có hôm trời tối Mĩ phát hiện ra, ta chuyên chở qua rừng, bọn chúng đã thả bom để không cho ta qua, phá vỡ chiếc cầu nối Bắc – Nam. Nhưng đặc biệt hơn cả là đoàn xe vận tải không có kính vì bị “bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”. Bom đạn trải xuống hàng loạt khiến nào là kính, nào là đèn vỡ, mui xe bẹp, nào là thùng xe xước… Không có đèn vượt qua dãy Trường Sơn đầy nguy hiểm như thế mà các chú vẫn hoàn thành tốt nhiệm vụ đánh Mĩ, chạy dọc Trường Sơn. Chẳng khác nào “châu chấu đá xe”, Mĩ với bao nhiêu thiết bị tối tân đế đánh ta nhưng chúng ta đã vượt qua những gian khổ để đánh chúng. Chú còn nhớ trên các cabin những chiếc xe như thế, bọn chú không cỏ vật gì để che chắn cả, gió táp vào mặt mang theo bao nhiêu là bụi. Gió bụi của Trường Sơn làm mắt cay xè, tóc bạc trắng như người già còn mặt thì lấm lem như thằng hề vậy, thế mà không ai cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc hút ngang nhiên, ai nấy nhìn nhau rồi cười giòn giã vang khắp dãy Trường Sơn.

Xem thêm:  Top 10 bài văn mẫu Nghị luận về trò chơi điện tử, game online lớp 9 chọn lọc

Với những ngày nắng là như vậy nhưng đến lúc mưa thì các chú còn khổ hơn nhiều, Trường Sơn mỗi lúc mưa là mưa như trút nước cộng thêm vào đó là những giọt sương muối ở rừng hòa vào dòng nước mưa phả vào da thịt của các chú tê rát cả da mặt, áo thì ướt hết. Lắm lúc lạnh quá các chú phải tì sát vào nhau mà nghĩ thầm: “Vì bảo vệ Tổ quốc phải vượt qua được thiên nhiên thì mới là những người lính của bộ đội Cụ Hồ”. Vì những lời nhủ thầm đó mà chú và các đồng đội mới trải qua được sự khắc nghiệt của thiên nhiên, thiên nhiên trong thời kỳ đó lắm lúc cũng là kẻ địch của mình đấy cháu ạ. Thế nhưng các chú vẫn cầm vô lăng lái một cách hăng hái hàng trăm cây số nữa có đâu cần thay người lái, gió lùa rồi quần áo lại khô thôi.

Cháu biết không: Người lính Trường Sơn năm xưa giản dị, đơn sơ lắm. Để trải qua những ngày tháng ấy các chú phải vượt qua biết bao nhiêu gian lao vất vả mà đặc biệt là phải biết vượt qua chính mình, có ý chí chiến đấu cao. Vượt qua những khó khăn như thế con người mới hiểu được sức chịu đựng của mình thật kỳ diệu. Xe không kính cũng là một thú vị vì ta có thể nhìn cả bầu trời, không gian rộng lớn khoáng đạt như ùa vào buồng lái, những ngôi sao đều nhìn thấy và những cánh chim chạy thẳng vào tim. Tâm hồn người chiến sĩ vui phơi phới, thật đúng là:

Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước,      

Mà lòng phơi phới dậy tương lai.

Trên con đường Trường Sơn, mỗi khi các chú gặp nhau thì thông qua cửa kính bắt tay. Đó là sự động viên, truyền thêm sức mạnh cho nhau để vượt qua khó khản. Mỗi khi giữa rừng, bên bếp Hoàng cầm sưởi ấm bao trái tim người chiến sĩ, các chú nghĩ từng chung bát chung đũa tức là một gia đình, là người trong một nhà rồi đấy cháu ạ. Một cử chỉ nhỏ của người chiến sĩ cũng làm cho họ gắn bó thêm, xiết chặt tình đồng đội.

Được nghe chú kể những vất vả ấy tôi thật khâm phục hơn tình đồng chí đồng đội, lòng dũng cảm hiên ngang của người chiến sĩ. Tôi thầm mơ ước trên thế giới không còn chiến tranh để cuộc sống mãi thanh bình.

Kể về cuộc gặp gỡ với người lái xe tiểu đội xe không kính – Bài làm 7

Tối hôm ấy, ngồi bên bàn học, tôi ngước nhìn ra ngoài cửa sổ đầy ánh sao đêm và nghĩ ngợi về bài giảng mà cô Vân- giáo viên dạy văn giảng cho tôi hồi sáng. Từ nhỏ, tôi đã được ông cho nghe về những ngày ông còn trong quân ngũ đã phải chiến đấu anh dũng thế nào, phải chịu khó khăn gian khổ ra sao nhưng cho đến hôm nay, khi nghe cô say mê giảng về “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” tôi mới thật sự thấu rõ và nể phục những gì mà người chiến sĩ Việt Nam đã làm được trong thời chiến. Bản thân tôi mong muốn được một lần gặp gỡ những anh lính trẻ tuổi ấy – những người đẹp nhất, dũng cảm nhất, hào hoa mà cũng hào hùng nhất trong lòng mỗi thế hệ trẻ chúng tôi. Mải nghĩ ngợi, tôi chợt gục bên bàn học và ngủ lúc nào không biết, trong đầu vẫn lanh lảnh tiếng thơ của thời hoa đỏ hào hùng:

“Những chiếc xe từ trong bom rơi

 Đã về đây họp thành tiểu đội

 Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới

 Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi…”

Trong mơ, tôi thấy mình đang quay ngược trở về quá khứ, vượt qua những gì mờ nhạt nhất của tuổi thơ rồi cuối cùng hạ cánh xuống mốc thời gian năm 1969. Kì diệu quá, cứ như tôi vừa bước ra từ cỗ máy thời gian vậy! Thật lạ là tôi đang ngồi bên buồng lái của một chiếc xe vận tải trên tuyến đường Trường Sơn! Chiếc xe này không có kính, không có đèn, không có mui xe, thùng xe cũng đầy vết xây xước vì bom đạn kẻ thù. Ồ, sao nó giống với chiếc xe mà sáng nay cô Vân tả thế nhỉ? Thấy tôi ngơ ngác, anh lính lái xe ngồi bên cạnh vỗ vào vai tôi:

Này đồng chí nhỏ, sao mặt lại ngơ ngác thế chứ nhỉ?

Ơ, chú ơi, đây là đâu thế ạ?

Đang trên đường ra chiến trường chứ đâu nữa. Đường lắm ổ gà ổ trâu quá, đi qua mà xe cứ rung hết cả lên!

Vậy là tôi đang trên chiếc xe vận tải không kính mà văn học đã nhắc đến hay sao? Tôi reo lên. Người lính kia chính là người có phong thái ung dung không nề hà cái chết, luôn luôn lạc quan yêu đời dù trong mưa bom bão đạn mà tôi vẫn thường ngưỡng mộ kia sao? Rụt rè một chút, tôi ngồi ngay ngắn lại và dò xét mọi thứ xung quanh. Tôi đang đi trên một cung đường nằm vắt ngang qua cánh rừng bạt ngàn cây cối, cái con đường ngoằn ngoèo đầy những lỗ hổng, những ổ gà, ổ trâu mà chỉ có người nào vững tay lái mới có thể giữ cho xe không bị lật. Ngừoi lính ngồi cạnh tôi đang huýt sáo. Trông anh còn rất trẻ, chỉ khoảng mười tám đôi mươi nhưng cánh tay gân guốc đầy khỏe mạnh đang nắm chắc vô lăng đưa đoàn xe qua cung đường đầy gian khổ. Chiếc xe kia quả thực không kính, mui xe cũng hỏng hóc, nó còn đi được tôi cho cũng là kì diệu lắm rồi…

Anh lái xe vận tải như này lâu chưa?

Cũng được 2 năm rồi. Hai năm vượt qua mưa bom bão đạn bọn Mỹ, kể cũng nhanh thật!

Anh kể cho tôi nghe về những lần đi chuyển hang từ miền Bắc vào chiến trường. Rời khỏi ghế nhà trường, anh cùng bạn bè đồng trang lứa lập tức tình nguyện vào chiến đấu, để lại sau lưng nhà cửa, mẹ già và cả một mối tình áo trắng đầy mơ mộng… Huyền thoại xe không kính anh đã nghe tới rồi, nhưng trực tiếp được lái một chiếc xe như thế anh thấy cũng là một cái duyên…

Nếu như hồi đấy ở lại Hà Nội, chắc mình cũng chẳng bao giờ hiểu được cảm giác thằng Mỹ đang dội bom xuống dưới, còn mình thì cứ cắm đầu xuống mà lao qua. Mặc kệ chứ! Mình chết thì còn bao nhiêu anh em đằng sau vượt lên cơ mà. Mình chả sợ, chờ được đến ngày chiến thắng là vui lắm rồi!

Anh kể cho tôi nghe về những chiếc xe… Ban đầu nó cũng đầy đủ tư trang vật liệu, rồi cuối cùng qua bao tháng năm, hôm nay vỡ một ô cửa sổ, ngày mai mất luôn một cái đèn, đến hôm sau mất luôn cái mui xe, thùng xe cứ đi qua là đầy vết xước mà cuối cùng nó trở thành chiếc xe không kính. Cơ mà cũng hay: Không kính nên gió mát cứ lùa vào khoang xe, nhièu lúc cay hết cả mắt mà vẫn thấy mình được hòa hợp với thiên nhiên đên lạ! Rồi đến mưa rừng, tuôn xối xả vào mặt, vào thân, to bằng mấy vạn cơn mưa rào của Hà Nội nhé, nhưng không sao, cứ để mặc thế lái vài trăm cây số nữa, quần áo cũng khô nhanh thôi…

Đi đường rừng nhiều bụi, nhiều lúc tóc tai trắng xóa vì bụi đường trông giống mấy ông cụ thế không biết. Nhưng già thêm tí cũng hay, mấy thằng nhìn nhau cười mà quên hết đi mệt nhọc…

Lái xe xa thế anh có nhớ nhà không?

Nhớ chứ, nhớ cả Hà Nội nữa… Nhưng biết sao được, chừng nào kháng chiến chưa thành công, chừng ấy vẫn chưa thể về với Hà Nội được. Mà ở đây cũng vui. Anh em trong tiểu đội thương nhau lắm, có nắm cơm cũng chia cho nhau ăn, cùng nhau ngồi bên bếp Hoàng Cầm mà thổi lửa thì đúng như một gia đình.

Tôi đưa mắt nhìn ra đằng sau xe. Chiếc võng Trường Sơn màu xanh lá, chiếc võng huyền thoại đã đi vào thơ ca, câu hát như một kỉ vật của chiến tranh:

“Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn

Hai đứa ở hai đầu xa thẳm

Đường ra trận mùa này đẹp lắm

Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây.”

Tôi nhìn về phía anh lính lái xe mà mắt rơm rớm. Đường đi gập ghềnh khúc khuỷu, mưa bom bão đạn dội xuống trước mắt, nỗi cô đơn khi anh phải rời xa gia đình và những gì gắn bó thân thương nhất để vào chiến đấu cho lí tưởng cao đẹp nhất của mình. Quả thực trong chiến tranh, thứ mà con người ta cần nhất, không phải là những vũ khí hiện đại tối tân, mà là một bản lĩnh, một ý chí vượt qua mọi thử thách. Điều đó đã lí giải vì sao một dân tộc nhỏ bé như Việt Nam đã đánh bại được một trong những kẻ thù mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ.

Tiểu đồng chí nói xem, đến bao giờ nước ta mới độc lập? – Anh hỏi tôi.

Có thể là 20 năm nữa, cũng có thể lâu hơn… Nhưng anh ơi, em tin chắc rằng dân tộc ta sẽ được độc lập, đất nước ta sẽ lại được tự do, đồng bào ta sẽ không còn phải khốn khổ nữa, vì nhân dân đã có những người lính như anh…- Tôi chợt òa khóc, khóc vì cảm phục, khóc vì nhìn thấy người lính ấy vẫn cười tươi ngay khi ranh giới sinh tử còn rất mong manh.

“Đoàng….” Tiếng bom dội phía trước khiến tay lái anh hơi lệch đi một chút. Anh cố định thần, khéo léo đưa chiếc xe qua những hố bom, cố gọi tôi: “Em ngồi yên, chỉ còn chút nữa…”

Tôi bừng tỉnh dậy. Hóa ra nãy giờ là tôi đang mơ. Tôi đã mơ về anh lính trong tiểu đội xe không kính ấy, với vẹn nguyên những cảm xúc nể phục và đầy tự hào. Dù chỉ là trong mơ, nhưng tôi đã phần nào cảm nhận được những khó khăn mà bộ đội ta đã từng trải qua, cũng như tinh thần chiến đấu mà họ đem tới. Tôi chợt nhận ra hòa bình là món quà vô giá mà các thế hệ đi trước đã phải khó khăn biết mấy mới có thể đem lại cho chúng tôi, và nhiệm vụ của thế hệ trẻ chúng tôi là pải làm sao để gìn giữ được nền độc lập mà ông cha ta để lại.

Kể về cuộc gặp gỡ với người lái xe tiểu đội xe không kính – Bài làm 8

Trong bài giảng văn trên lớp buổi sáng, chúng tôi được học “ Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của nhà thơ chiến sĩ Phạm Tiến Duật. Buổi tối, khi ngồi học bài khuya, tôi ngủ thiếp đi trên bàn học. Trong giấc mơ, tôi đã được gặp gỡ và trò chuyện với người lính lái xe của tiểu đội xe không kính trên tuyến đường Trường Sơn thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Trong mơ, tôi thấy mình lạc vào khung cảnh núi rừng hoang vu, hùng vĩ với những dãy núi chập chùng, những tán cây cổ thụ rậm rạp và cao vút. Phía trước mặt tôi là con đường đất đỏ trải dài tít tắp. Lòng đường khá rộng, đây đó còn xót lại dấu tích của một vài hố bom sâu hoắm. Tôi nhận ra đây chính là dãy núi Trường Sơn với con đường mòn Hồ Chí Minh lịch sử. Đây là con đường huyết mạch mà quân ta dùng để vận chuyển lương thực, vũ khí, quân trang, quân phục chi viện cho chiến trường miền Nam. Vũng bởi đây là một tuyến đường vô cùng quan trọng nên kẻ thù liên tiếp cho bom đoạn cày xới hòng chặt đứat con đường huyết mạch ấy.

Đang đứng bên lề đường, tôi chợt nhìn thấy đoàn xe đang ầm ầm tiến đến. Nhìn thấy tôi đứng bên đường, một chiếc xe trong số đám xe dừng lại. Từ trên xe bước xuống một chiến sĩ trong bộ quân phục màu xanh lá, chiếc mũ cối nghiêm trang trên đầu, gương mặt trẻ trung, ánh lên nét tinh anh và quả cảm. Ánh mắt anh chiến sĩ sáng ngời như sao sa, toát lên một sự thân thiện và hóm hỉnh. Nụ cười tươi tắn trông thật hồn nhiên. Anh chiến sĩ bước tới, nở nụ cười và cất giọng hỏi tôi:

-Em đi đâu mà lại lạc đến khu rừng này?

Tôi trả lời:

-Em cũng không biết nữa. Anh có thể cho em đi nhờ được không?

Anh chiến sĩ mỉm cười và gật đầu:

-Em lên xe đi!

Tôi trèo lên xe cùng với anh. Và lúc này tôi mới nhận ra là cabin của anh không có kính. Tôi hỏi:

-Anh ơi! Tại sao chiếc xe này lại không có kính?

Anh chiến sĩ cười hóm hỉnh giải thích:

-Ban đầu chiếc xe này cũng giống như những chiếc xe khác, đều được lắp kính. Nhưng sau nhiều lần trở hàng ra tiền tuyến, bom đạn của giặc Mỹ đã làm cho kính vỡ mất rồi em ạ!

Lời giải thích ngắn gọn và gương mặt bình thản của anh chiến sĩ khiến tôi hiểu được bao điều: “Chiến trường thật ác liệt và những người lính lái xe như anh đã phải đối mặt với bao hiểm nguy.” Tôi nhìn anh rồi lại hỏi:

-Ngồi trên chiếc xe không kính, chắc anh gặp rất nhiều khó khăn phải không ạ?

Anh gật đầu:

-Đúng đây em nhỏ ạ! Những ngày nắng thì bụi mù mịt, bụi phun vào cabin làm gương mặt lấm lem, mái tóc đen nhánh của tụi anh bỗng chốc biến thành những mái đầu hoa râm của những cụ già lớn tuổi. Ngày mưa thì càng khắc nghiệt. Có khi mưa tuôn, mưa xối ngay vào mặt. Mưa hắt vào trong xe khiến cho quần áo các anh ướt sạch cả. Nhưng chẳng hề gì đâu em, đối với các anh thì điều đó chẳng đáng bận tâm.

Ngắm nhìn gương mặt vô tư, nụ cười hồn nhiên và dáng ngồi ung dung của anh chiến sĩ, tôi vô cùng cảm phục. Anh kể về những khó khăn, gian khổ của cuộc đời người lính với một giọng điệu nhẹ nhõm, thản nhiên như đang kể một câu chuyện vui. Anh nói tiếp, giọng thủ thỉ như tâm sự:

Nhiều khi xe không có kính mà lại thú vị đấy em ạ! Thiên nhiên trở nên gần gũi với mình hơn. Vui nhất là những lúc bọn anh được gặp nhau. Chẳng cần mở cửa xe, chỉ cần đưa tay qua cửa kính đã vỡ là có thể bắt tay nhau được rồi.

Xem thêm:  Top 10 bài văn mẫu Thuyết minh về ngôi trường của em lớp 9 chọn lọc

Tôi hỏi anh:

-Vậy các anh có hay được gặp gỡ đồng đội của mình không ạ?

Anh chiến sĩ gật đầu:

-Cũng ít thôi em ạ. Bởi vì tiểu đội anh thường xuyên phải chở hàng ra tiền tuyến, bất kể ngày hay đem. Chính vì vậy mà những giây phút ấy rất có ý nghĩa đối với tụi anh. Đi kháng chiến xa nhà, xa gia đình, chỉ có những người đồng chí đồng đội luôn kề vai sát cánh cùng nhau, cùng nhau vào sinh ra tử. Những chặng đường nghỉ chân gặp nhau thì chung nhau bát đũa, cùng nhau nhóm bếp lửa Hoàng Cầm giữa đất trời của Tổ Quốc mà thôi cơm em ạ. Những kỉ niệm đó có lẽ là những kỉ niệm sẽ theo tụi anh đến suốt cuộc đời. Như thế, và tụi anh đã trở thành những người thân ruột thịt của nhau trong đại gia đình của những người lính lái xe.

Sợ tôi đói và mệt, anh chiến sĩ dừng xe bảo tôi lấy chút lương khô để ăn. Lúc nafym tôi mới có dịp quan sát chiếc xe. Thì ra chiếc xe không chỉ không có kính mà còn không có đèn, không có mui xe, thùng xe thì có nhiều vết xước. Nhìn chiếc xe mang trên mình biết bao thương tích, tôi có thể hình dung được sự khốc liệt của chiến trường. Người lính lái xe như hiểu được suy nghĩ của tôi, giọng anh trầm xuống:

-Chiến tranh không thể nào tránh khỏi những mất mát hi sinh. Rất nhiều đồng đội của anh đã ngã xuống khi đang lái xe để tiếp tế lương thực và khí giới cho tiền tuyến. Nhưng dù kẻ thù có trút xuống hàng ngàn, hàng vạn tấn bom thì chúng cũng không thể nào ngăn được bước tiến của đoàn xe không kính. Vì miền Nam ruột thịt thân yêu, vì sự thống nhất đất nước, các anh có thể vượt qua tất cả dù phải hi sinh.

Lời nói của anh chiến sĩ lái xe khiến tôi vô cùng xúc động và cảm phục. Các anh thật dũng cảm, kiên cường mà cũng rất lạc quan, yêu đời. Tôi hiểu rằng cũng chính trái tim yêu quê hương đất nước và tràn đầy nhiệt huyết tuổi trẻ của các anh là nguồn cội sức mạnh giúp các anh chiến đấu và chiến thắng kẻ thù. Với ý chỉ quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, với tinh thần chiến đấu của các anh, cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta nhất định sẽ thắng lợi. Thế hệ trẻ chúng tôi hôm nay vô cùng biết ơn và cảm phục những người đã hi sinh máu xương của mình để “ làm nên đất nước”, để bảo vệ độc lập tự do cho Tổ quốc thân yêu.

Tiếng mẹ gọi làm tôi bừng tỉnh. Nằm trong chăn ấm mà hình ảnh người chiến sĩ lái xe không kính vẫn còn hiện lên trong tâm trí tôi. Giấc mơ được gặp gỡ cùng người lính lái xe quả cảm đã để lại trong tôi những ấn tượng không thể nào quên.

Kể về cuộc gặp gỡ với người lái xe tiểu đội xe không kính – Bài làm 9

Nhân ngày Thương binh liệt sĩ ngày 27/07, tôi cùng bà đến nghĩa trang tỉnh, thắp nén hương cho người ông đã hi sinh vì khói lửa chiến tranh. Mỗi lần đến đây, lòng tôi lại có chút gì đó đượm buồn, hẳn đó cũng là tâm trạng của mọi người đang đứng tại nơi đây. Tôi khẽ nhìn xung quanh, đứng cạnh tôi là một người lính đang khẽ cúi đầu trước một nấm mộ. Bà và tôi cùng trò chuyện với chú ấy, và bất ngờ thay, chú chính là người lính lái xe được miêu tả trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” mà tôi vừa mới học vào tháng trước.

Anh lính trẻ năm nào giờ đã trở thành một con người chững chạc, già dặn. Chúng tôi và chú cùng ngồi xuống một hàng ghế gần đó mà kể nhau nghe những kỉ niệm vui buồn. Giọng của chú trầm và ấm quá, chen lẫn trong tiếng cười hào sảng là chút hoài niệm về những tháng ngày chiến tranh khốc liệt. Biết tôi rất thích “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật, chú nhìn tôi mà cười hiền từ.

Chú kể rằng, ngày ấy chú là một trong những người lính lái xe “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” mang biết bao vũ khí, lương thực, thuốc men,…tiếp tế cho miền Nam ruột thịt. Nơi chú đi qua là tuyến đường Trường Sơn – cũng chính là tuyến đường huyết mạch thường xuyên hứng mưa bom bão đạn của quân Mỹ trong thời gian năm 1969. Mưa bom, bão đạn đã khiến cho xe của các chú “không có kính”. Vất vả, gian lao, hiểm nguy là thế nhưng vì sự nghiệp giải cứu Tổ quốc, chú và các đồng đội đã đối mặt với thử thách bằng một thái độ rất lạc quan, hào sảng:

“Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”

Cháu biết không? Xe không có kính, tưởng bất tiện vậy mà lại tạo niềm vui nho nhỏ trên quãng đường đầy khói lửa của bọn chú đấy! Tại buồng lái ấy, bọn chú đã tận hưởng những năm tháng của tuổi trẻ với gió, với con đường, rồi cả sao trời, cánh chim,…Thật là hoài niệm quá cháu nhỉ?

Chú vừa kể vừa nở một nụ cười hiền lành. Tôi phần nào tưởng tượng ra những anh lính trẻ lạc quan, tìm niềm vui trong những khó cực. Họ là những con người phải sinh ra và lớn lên trong thời kì chiến tranh loạn lạc, nghe tiếng gọi lên đường mà giải phóng quê hương. Lái những chiếc xe không có kính qua một chặng đường dài hẳn là một việc không hề dễ dàng. Nào là bụi, là mưa, là gió,…cứ tạt thẳng vào người cầm lái. Đau chứ, lạnh chứ, nhưng những người lính trẻ ấy luôn xem đó là một điều hiển nhiên mà vui vẻ chấp nhận. Tôi thoáng hình dung ra nụ cười hồn nhiên trước đất trời của những con người quả cảm “Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”.

Trên suốt chặng đường hành quân, người lính đã gặp và làm quen với nhiều đồng đội khác, “Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi”. Chú kể rằng, dù là ai đi chăng nữa, nếu đã gặp trên đường ra trận thì chẳng khác nào anh em một nhà. Những khoảnh khắc bình yên bên bếp cơm ấm nóng, bên chiếc võng đu đưa,… luôn là một kí ức đẹp luôn đọng mãi trong lòng chú.

Theo như lời chú kể, càng tiến tới gần miền Nam, độ dữ dội của các trận bom như được tăng cao. Những chiếc xe giờ đây dường như biến dạng “Không có kính, rồi xe không có đèn/ Không có mui xe, thùng xe có xước”, ấy vậy mà, những chiếc xe ấy vẫn bon bon hướng về tiền tuyến, vẫn hiên ngang chạy giữa cuộc chiến khốc liệt. Bởi, chú tự hào rằng, xe có thể hỏng nhưng những trái tim trong xe, luôn tràn đầy tình yêu hướng về miền Nam.

Ánh nắng đã dần lên cao, soi sáng gương mặt rạng rỡ, ấm áp nhưng có chút đượm buồn trước sự hy sinh của đồng đội trong đôi mắt chú. Nhìn chú như vậy, tôi càng thêm kính quý những con người đã ngã xuống vì nền hòa bình của đất nước, càng tự dặn lòng phải cố gắng rèn luyện để mai này trở thành một con người có ích cho quê hương.

ke ve cuoc gap go voi nguoi linh lai xe tieu doi xe khong kinh - Top 10 bài văn mẫu Bài viết số 3 lớp 9 đề 2: Kể về cuộc gặp gỡ với người lái xe tiểu đội xe không kính chọn lọc

Bài văn mẫu Kể về cuộc gặp gỡ với người lái xe tiểu đội xe không kính

Kể về cuộc gặp gỡ với người lái xe tiểu đội xe không kính – Bài làm 10

Buổi sớm đầu đông, tôi tung tăng tới trường, trong tiếng chim ca ríu rít, dưới bầu trời xanh thăm thẳm…Hôm nay, tôi sẽ được học bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật, một bài thơ tôi rất thích từ hồi Tiểu học. Vừa lẩm nhẩm đọc lại bài thơ, tôi vừa mơ màng tưởng tượng như đang đi trên một con đường rừng gập ghềnh, hiểm trở. Tất cả bỗng chợt mờ nhòa trước mắt tôi bởi một làn khói bụi mờ ảo, rồi lại như dần hiện ra rõ nét từng cảnh vật…

Một đoàn xe tải băng qua. Tôi ngơ ngác nhìn theo:

– Sao lại có xe ở con đường rừng này nhỉ?

Đang mông lung suy nghĩ thì lại một đoàn xe tải nữa rầm rầm tiến tới, đất dưới chân tôi rung chuyển. Tôi lùi vào bên đường cho xe qua. Một, hai, ba…Bỗng chiếc xe thứ sáu, cũng là chiếc xe cuối cùng dừng lại. Một chú bộ đội mặc quần áo xanh, tươi cười xuống xe:

– Cháu bé, sao lại ở đây một mình thế, lạc mẹ hả? Để chú đi tìm giúp nha?

– Không, cháu đâu có lạc mẹ, cháu đến thăm các chú lính lái xe Trường Sơn đấy chứ, chú có biết họ không?

Chú không trả lời chỉ bảo tôi lên xe đi theo chú. Ngồi trên xe thích thật. Tôi nhìn chăm chăm vào chú lính ấy, có điều gì ở chú làm cho tôi cảm thấy thân quen quá. Chú quay ra nhìn tôi, nụ cười ấm áp. Tôi giật mình lảng đi, rồi bạo dạn hỏi:

– Chú là lính lái xe Trường Sơn phải không ạ?

Chú vẫn chẳng nói gì cả, chỉ cười và chăm chú nhìn con đường phía trước. Gió ở hai bên tạt vào mát lạnh.

– Xe gì mà không có kính thế này? Tôi ngạc nhiên.

Một chú chim ở đâu liệng qua, tôi vội với tay về phía nó nhưng không kịp. Hay thật! Tôi bắt đầu thò hai tay ra ngoài, thò luôn cả đầu, một cảm giác sung sướng như bay. Nào ngờ lại bị chú mắng:

– Nguy hiểm đó, cháu nghịch thật đấy!

Tôi phụng phịu chui vào.

– Không lạnh hả cô bé? Thực ra xe các chú vốn có kính, nhưng bị bom giật, bong rung làm vỡ hết rồi.

– Thích thế, cháu thích được ngồi trên những chuyến xe thế này.

Rồi hai chú cháu lại chìm vào những giây phút yên lặng.

Chiếc xe bỗng dừng lại ở chỗ có ba bốn túp lều. Tôi xuống xe. Ở đây xung quanh là cây rừng, mọi thứ đều đơn sơ và hoang vắng quá. Có mấy con gà cục ta cục tác chạy khắp sân, một vại nước nhỏ và một cái gáo tí hon, dây phơi quần áo cũng nhuộm đầy một màu xanh. Cuộc sống ở đây thật yên bình, khiến cho người ta đâu còn cái cảm giác của chiến tranh nữa.

Một làn nắng nhẹ nhàng làm bừng lên cả không gian yên ắng nơi đây. Có một chú xắn quần ống thấp ống cao từ đâu chạy đến xé toang cái không khí im lặng ấy.

– Này nhóc, chơi đâu mà lạc đến đây thế hả? Bộ không sợ thằng Mĩ nó bắn sao?

– Có các chú rồi, lo gì nữa ạ?

– Đáo để nhỉ, vào đây nấu cơm cho các chú, bé con.

Tôi lon ton chạy theo, cũng với ống quần thấp cao bê cái nồi cơm mà với tôi là “to tướng”. Bỗng một chú có vẻ nghiêm nghị hơn trông thấy tôi, chú hỏi:

– Sao cháu lại ở đây?

Biết ngay đây là chỉ huy trưởng, tôi bèn lân la đến.

– Cháu muốn ở đây chơi được không chú? Chú kể chuyện cho cháu nghe đi, cháu thích lắm.

Không biết chú có đồng ý không mà đã vòi rồi, tôi thấy ngường ngượng. Nhưng chợt chú nhìn tôi và bảo:

– Tí tuổi đầu mà cũng thích chuyện chiến đấu. Được, chú tình nguyện.

Chú chỉ huy dắt tay tôi đi và không quên dặn chú lính đang bưng rá gạo:

– Cậu đi nấu cơm nhanh lên, anh em đói rồi đấy.

Rồi tôi cùng chú chỉ huy trưởng đến một gốc cây cao su to, có bàn ghế đầy đủ. Chiếc ghế gỗ kẽo kẹt nghe thật vui tai.

– Chú ơi, ở đây toàn những chú hiền nhỉ, chắc cuộc sống vui lắm phải không chú?

– Cháu không biết chứ cuộc sống ở đây vất vả lắm. Hàng ngày các chú phải vận chuyển lương thực, cả thuốc thang và vũ khí ra tiền tuyến. Nhưng lúc nào gặp nhau cũng có tiếng cười, lúc nào cũng chuyện trò tếu táo. Các chú phải làm cả công việc của các bà nội trợ, rửa bát, nấu cơm…Tối đến lại quây quần bên đống lửa diễn kịch, kể chuyện cười…Nhiều hôm bọn chú phải đi cả đêm để kịp vận chuyển vũ khí, lương thực cho quân ta.

– Thế thì mệt lắm chủ nhỉ?

Chú bỗng trầm ngâm, đôi mắt xa xăm. Một làn gió nhẹ xào xạc làm một chiếc lá rơi trên tóc chú.

– Đúng là rất gian nan. Những ngày nắng ráo thì bụi tung mù mịt, những ngày mưa thì đường rừng trơn bùn lầy, mưa cứ xối thẳng vào mặt. Bọn chú có lúc cũng thấy sợ bom đạn. Nhưng đó chỉ là cái cảm giác của thời gian đầu thôi. Sau thì chỉ có thẳng tiến. Vui nhất là lúc gặp mấy cô thanh niên mở đường, người con gái nào cũng dịu dàng và anh dũng. Con gái mà còn thế huống chi các chú – những chàng trai can trường càng phải cứ thẳng mà tiến chứ.

– Hay thật đấy! Ước gì cháu được lớn bằng các chú nhỉ! À, chú này, kỉ niệm nào làm chú nhớ nhất, tiết lộ cho cháu với.

Chú mỉm cười, lắc đầu:

– Nhóc này, nhiều chuyện quá. Nhưng dù sao chú cũng chưa tâm sự với ai, nghe xong cấm phát biểu cảm nghĩ đó nha.

– Đồng ý! Tôi giơ cả hai tay lên rồi cười hì hì…

Tiếng lá rừng xôn xao, những giọt nắng nhỏ nghịch ngợm, luồn qua kẽ lá, chui xuống chỗ chú cháu tôi ngồi mà nhảy nhót. Tất cả đã sẵn sàng lắng nghe giọng kể ấm áp của người chiến sĩ.

– Đó là bữa cơm của ngày đầu tiên chú đến tiểu đội. Chú bị gọi là “cô dâu mới về nhà chồng” đấy, ngượng và xấu hổ lắm. Trời, chú không thể tưởng tượng được, một mâm cơm trải dàn những bát và đũa, chỉ có ba món: Rau rừng luộc, canh măng rừng và ít thịt nạc khô. Bỗng một anh cầm đũa gõ keng keng vào bát, tất cả cùng hòa nhịp hát rộn vang cả khu rừng. Vui ghê! Tất cả mọi khoảng cách bỗng đều tan biến đi hết. Bữa ăn tuy đạm bạc nhưng làm chú xúc động quá. Họ gắp cho nhau từng miếng thịt. Bữa ăn đầu tiên ấy tuyệt thật, một bữa ăn bình thường thôi nhưng dù muốn quên chú cũng chẳng thể quên được.

Tôi thấy hình như đôi mắt chú rưng rưng. Cả tôi nữa, tôi vừa cảm nhận được một thứ tình cảm “gia đình” rất đặc biệt của những người lính…

– Cô bé này sao bỗng thộn người ra thế?

– Chú ơi, cháu đói quá!

Vừa lúc ấy một chú khắp khu lều gọi mọi người.

– Anh em ơi, đi ăn cơm nào!

Vậy là tôi lại được gặp lại bữa ăn đầu tiên ở tiểu đội của chỉ huy trưởng rồi!

Ăn xong, các chú lại quây quần bên đống lửa, tiếng đàn ghi ta vang lên hòa cùng tiếng hát của những người lính. “Xe ta bon trên những dặm đường, giữa làng quê ta băng qua bao suối đèo, đồi nương mà xe ta băng ra chiến trường…”…

Khúc quân hành ấy cứ ngân vang, ngân vang, vọng khắp khu rừng…Tôi đã trở lại con đường đến trường từ bao giờ mà khúc hát vẫn âm vang khiến lòng tôi xao xuyến mãi.

Trên đây là bài văn mẫu Bài viết số 3 lớp 9 đề 2: Kể về cuộc gặp gỡ với người lái xe tiểu đội xe không kính hay nhất. Chúc các em có thể làm tốt đề văn này sau khi tham khảo những bài văn mẫu trên.

Thu Thủy

Check Also

bai viet so 4 lop 10 de 3 thuyet minh ve mot kinh nghiem hoc van hoac lam van e1584264850645 310x165 - Top 10 bài văn mẫu Bài viết số 4 lớp 10 đề 3 Thuyết minh về một kinh nghiệm học văn hoặc làm văn lớp 10 chọn lọc

Top 10 bài văn mẫu Bài viết số 4 lớp 10 đề 3 Thuyết minh về một kinh nghiệm học văn hoặc làm văn lớp 10 chọn lọc

Hướng dẫn làm bài văn mẫu Bài viết số 4 lớp 10 đề 3 Thuyết …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *